Posted by
Aristotle, Trên truyền thông

Mặc dù chúng ta đều biết Luân lý học (Nicomachean Ethics) là của Aristotle nhưng thực ra tác phẩm này không phải do Aristotle viết. Luân lý học chỉ là tập hợp các bài giảng của ông tại Lyceum và được các học trò ghi chép, biên soạn và Nichomachus, con trai của ông, biên tập cuối cùng.

TẠI SAO LUÂN LÝ HỌC ĐƯỢC DẠY TẠI LYCEUM?

Hy Lạp là cái nôi của triết học

Hy Lạp thời Aristotle đã trải qua vài trăm năm với các học giả uyên bác có ảnh hưởng rộng khắp khu vực Địa Trung Hải. Chúng ta phải kể tới Thales, Democritus, Socrates, Pythagoras… mà hầu như ai cũng biết. Các triết gia Địa Trung Hải này đã lan tỏa tri thức bằng nhiều cách, từ dạy học cho các con cháu quý tộc, tới đi lang thang rao giảng, mở học viện với hàng trăm môn đệ như Plato. Aristotle cũng vậy, ông đã thành lập Lyceum với sự tài trợ của đức vua xứ Macedon, Philip II, vì ông đã làm gia sư cho thái tử kế vị xứ Macedon, người mà sau này trở thành Alexander Đại đế.

Aristotle là kết tinh của triết học Hy Lạp

Aristotle có thể nói là một bộ bách khoa toàn thư của Hy Lạp cổ đại. Ông có sự tổng hợp của toàn bộ các triết gia Hy Lạp tiền bối như Socrates hay người thầy Plato. Aristotle có nhiều điểm không đồng ý với Plato nên ông đã rời khỏi học viện và đi tới xứ Macedon khi Plato chết và học viện được quản lý bởi một người cháu của Plato, Speusippus. Hầu như toàn bộ các trí thức trẻ thời Aristotle đều ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng của Plato và quen với lý thuyết về cái hang cũng như về những hình mẫu lý tưởng. Tuy nhiên mải mê với những hình mẫu lý tưởng mà quên đi giải quyết những vấn đề đời thực ngay trước mắt không phải là cách vận dụng triết học mà Aristotle mong muốn.

Aristotle
Aristotle

Aristotle đưa triết học vào thực tiễn cuộc sống

Ông cho rằng con người là một sinh vật chính trị và phải tích cực tham gia vào đời sống xã hội. Bởi nếu không như vậy thì con người sẽ cảm thấy rất cô đơn. Đồng thời cũng theo ông, chỉ có động vật và thần thánh mới chịu được sự cô đơn, chứ con người thì không thể. Do đó tại Lyceum, Aristotle chú trọng việc xây dựng nền tảng tư duy, suy nghĩ để giúp mỗi người sẵn sàng tham gia vào đời sống xã hội một cách tích cực, có ích cho cộng đồng. Luân lý học chính là những bài giảng đầu tiên để bàn về cách thức một người nên sống và tư duy ra sao để đạt được hành phúc nội tại.

LUÂN LÝ HỌC LÀ TẬP HỢP CÁC BÀI GIẢNG

Trải qua hơn 2000 năm lịch sử, bản thảo bằng tiếng Hy Lạp thời Aristotle đến nay đã thất truyền. Những nội dung mà ngày nay chúng ta có được là nhờ sự lan truyền của những người yêu tri thức ở Kỷ nguyên Vàng Islam, thời Phục Hưng ở châu Âu và cộng đồng Aristotle tại Đức, Anh trong thế kỷ 18,19.

Có tất cả 3 tập văn bản về Đạo đức được gán cho Aristotle

  1. Nicomachean Ethics (Luân lý học)
    Đây là văn bản phổ biến nhất và nhiều chữ nhất được cho là của Aristotle. Cuốn sách chứa khoảng hơn 100 nghìn chữ, được chia tương đối thành 10 quyển gối tiếp nhau theo các chủ điểm mà ông đưa ra để thảo luận như Hạnh phúc, Phẩm hạnh, Vui thú, Tương giao… Do đó khi đọc Luân lý học, độc giả hãy tưởng tượng như đang ngồi nghe giảng và đàm luận với Aristotle chứ không phải là đang đọc một cuốn sách theo phong cách học thuật hiện đại. Cuốn sách có tên là Nicomachean Ethics bởi vì nó vốn được biên tập bởi Nicomachus, con trai của ông, hoặc đặt tên theo người cha của ông, cũng có tên là Nicomachus. Chúng ta khó mà nắm được sự thật.
  2. Eudemian Ethics
    Cuốn sách này ít nổi tiếng hơn Nicomachean Ethics và cũng ngắn hơn, chỉ bao gồm 8 quyển, trong đó ba quyển IV, V, VI của nó thì giống hệt ba quyển V, VI, VII của Nicomachean Ethics. Tuy ít nổi tiếng hơn, một số nội dung của Eudemian Ethics được cho là bổ sung đáng chú ý cho Nicomachean Ethics về nhiều khái niệm như Temperance, Liberality, Friendlyness, Dignity… Cuốn sách có tên là Eudemian Ethics bởi vì nó được biên soạn bởi Eudemus, một học trò khác của Aristotle tại Lyceum.
  3. Magna Moralia
    Dù văn bản này bị nhiều người gạt ra khỏi các tác phẩm của Aristotle nhưng nó vẫn được nhiều học giả lớn như Friedrich SchleiermacherHans von Arnim, và J. L. Ackrill cho rằng là của Aristotle. Cái tên gọi Magna Moralia (Great Ethics) cũng không rõ đến từ đâu và nội dung của nó cũng quá ngắn cũng như sơ lược hơn nhiều so với Nicomachean Ethics hay Eudemian Ethics.
Luân lý học, NXB Đà Nẵng, 2020

SỐ PHẬN LONG ĐONG CỦA ARISTOTLE

Được xem là cha đẻ của nhiều lĩnh vực: chính trị, logic, thi ca, sinh học,… Aristotle đã có một đóng góp không một ai trước hoặc sau ông có thể sánh kịp với khối lượng tác phẩm đồ sộ và có tính hệ thống. Ngoài ra, trên cương vị Thái sư, thầy của Alexander Đại đế, ông đã thành công cả về mặt chính trị khi vương quốc của Alexander trải dài khắp một lục địa từ châu Âu tới tận Ấn Độ. Tuy nhiên, nếu như Alexander đoản mệnh thì Aristotle cũng lận đận không kém.

Không được quê hương chấp nhận

Làm học trò của Plato trong 20 năm, là học trò xuất sắc nhất của Plato, nhưng Aristotle bất đồng với người thầy của mình ở nhiều khía cạnh. Và Aristotle đã phải rời bỏ Athens, rời bỏ Academy dù nơi đây đã là ngôi nhà yêu quý của ông. Aristotle đã hệ thống hóa các tri thức được khơi gợi từ các bậc tiền bối và muốn đưa chúng vào thực tiễn. Tuy nhiên Plato và nhiều đồng môn khác muốn ở trong tháp ngà tri thức và rời xa trần tục. Academy tù túng đã không giữ được chân của Aristotle, không giữ được hoài bão lớn mà ông ấp ủ.

Xây dựng một đế chế thống nhất

Ước mơ của Aristotle là xây dựng một ngôi nhà tri thức không phân biệt màu da, sắc tộc hay biên giới. Và ông đã tìm đến một thành bang nhỏ bé hơn Athens, đó là Macedon, nơi đức vua Philip II và thái tử Alexander cũng có hoài bão lớn lao, sẵn sàng biến ước mơ của ông thành hiện thực. Alexander đã làm được. Lên ngôi năm 20 tuổi, Alexander đã chinh phục được một vùng đất rộng khắp từ Bắc Phi tới Tây Ấn. Trong cuộc đời cầm quân 13 năm của mình, Alexander chưa bao giờ thất bại một trận chiến nào. Với sự ủng hộ mạnh mẽ từ Alexander, Aristotle đã xây dựng Lyceum một cách mạnh mẽ ngay bên ngoại ô của Athen và cùng tồn tại với Academy. Lyceum không đi theo hướng tháp ngà tri thức, nơi chỉ có những người được chấp nhận và phải trả tiền để được vào học. Lyceum mở cửa chào đón tất cả mọi người, và hoàn toàn miễn phí. Aristotle chia tri thức thành hai loại, một loại là các chân lý dễ tiếp cận, ông cung cấp thoải mái cho cộng đồng; loại chân lý thức hai, khó hiểu hơn, ông giảng dạy chi tiết trong Lyceum.

Tri thức bôn ba

Sau khi Alexander qua đời, làn sóng chống Macedon tại Athen lên cao nên Aristotle không còn được yên ổn dạy học. Ông đã phải rời bỏ Athens và tới quê ngoại tại Chalcis, Euboea, tránh gặp phải bi kịch tương tự như Socrates. Chính ông đã tuyên bố: “Tôi không cho phép người Athen mắc tội chống lại triết học lần thứ 2.” Trước đó người Athen đã xử tử Socrates vì tội rao giảng triết học. Số lượng tác phẩm đồ sộ của Aristotle đã bị thiêu đốt bởi các cuộc chiến, và được các tri thức lưu giữ, cất giấu như Plutarch (46–c. 119 CE), Strabo (c. 64 BCE–23? CE), Andronicus of Rhodes, lãnh đạo cuối cùng của Lyceum. Sau đó là các học giả của Islam như  Averroes (1126-1198), Avicenna (980-1037) và Alpharabius (872-950). Tiếp đó là các học giả thời tiền Phục Hưng của châu Âu đã dịch lại từ tiếng Ả Rập và Hy Lạp như Gerard of Cremona (1114-1187), James of Venice (TK 12) và William of Moerbeke (1215-1286). Dù vậy, việc dịch các tác phẩm của Aristotle vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ như tại Trung Đông. Các học giả châu Âu chỉ dừng lại ở đọc các bản thảo gốc bằng tiếng Latin hoặc tiếng Ả Rập và ca ngợi Aristotle bằng cách nhắc tới ông với lòng kính trọng bằng tước hiệu “The Philosopher”. Từ Thomas Aquinas tới Chaucer, Dante, Martin Heidegger đều coi trọng Aristotle.

Sự trở lại trong kỷ nguyên mới

Các học giả Anh, Mỹ ở thế kỷ XX đã không ngừng mang Aristotle quay trở lại với thế giới. Thương nhân James Loeb vào năm 1911 đã sáng lập Loeb Library để dịch các tác phẩm kinh điển Hy Lạp – La Mã sang tiếng Anh và toàn bộ các tác phẩm còn sót lại của Aristotle đã được xuất bản bản dịch tiếng Anh vào năm 1954 với 12 tập, tổng cộng hơn 1 triệu chữ, áng chừng chiếm khoảng 20% toàn bộ khối lượng sáng tác của Aristotle lúc còn sống. Năm 1976, Princeton Press đã xuất bản tổng tập Aristotle có chỉnh sửa. Và giáo sư triết học nổi tiếng đương đại Michael Sandel cũng đang xem Aristotle như phương án vượt qua khỏi lưỡng nan công lý đang xuất hiện trong thời kỳ hiện đại bởi hai xu hướng mâu thuẫn giữa Immanuel Kant và John Stuart Mill.

Lê Duy NamTrưởng nhóm dịch Luân lý học, NXB Đà Nẵng, 2020

Tham khảo các bài nói chuyện về Luân lý học, NXB Đà Nẵng, 2020