Đại bê bối: Vai trò của Cơ-đốc giáo trong sự trỗi dậy của Nazi

Đại bê bối: Vai trò của Cơ-đốc giáo trong sự trỗi dậy của Nazi

“Bạn biết điều gì xảy đến khi những kẻ vô thần kiểm soát như trường hợp Đức Quốc xã (Nazi Germany) không? Nhiều người Cơ-đốc lấy Chủ nghĩa Nazi cùng với Chủ nghĩa Stalin để minh họa cho hiểm họa khi những kẻ vô thần nắm quyền [1]. Ở thái cực khác, một số tác giả lại ví Vatican như một đồng minh thân cận của Hitler. Dù vậy, Nazi thường được mô tả là sử dụng bạo lực để bẻ cong một nền văn minh hiện đại, nhưng chúng ta nhận ra rằng Hitler ban đầu lại rất bình dân. Giữa các luồng quan điểm trái chiều, đâu mới là sự thật?

Table of Contents

Một hình thái nghiên cứu học thuật dần lớn mạnh – một số dựa trên việc phân tích các báo cáo của Nazi – đang làm rõ giai đoạn lịch sử phức tạp này [2]. Họ tiết lộ một mô thức hỗn tạp của tín ngưỡng và sự suy đồi đạo đức trong chủ nghĩa vô thần và những người không tôn giáo chỉ đóng vai trò nhỏ, trừ nạn nhân của Nazi và đồng minh của chúng. Trái lại, Cơ-đốc giáo đã có thể chặn đứng Chủ nghĩa Nazi trước khi nó lên nắm quyền, cũng như giảm thiểu và kiểm soát hành động sau đó, nhưng họ thất bại bởi các nhà thờ chánh tòa lại đồng lõa với – thật ra là bị mua chuộc – Nazi.

Đa số người Công giáo Đức ủng hộ Đế chế (Reich), nhiều người vẫn tiếp tục ủng hộ bất chấp bằng chứng rõ ràng rằng chế độ độc tài là xấu xa và gây nên nhiều tội ác giết người. Những nơi khác ở châu Âu, câu chuyện cũng diễn ra tương tự. Chỉ có sự hợp tác lâu dài và thường xuyên của Cơ-đốc giáo thì phong trào phát xít mới có được sự ủng hộ to lớn ở các nước Cơ-đốc. Chủ nghĩa phát xít châu Âu là kết quả của nền văn hóa Cơ-đốc. Hàng triệu người tích cực ủng hộ các chế độ khét tiếng này. Hàng ngàn người trở thành người vô thần.

Nhân danh Chúa, họ đã nghĩ gì vậy?

Trước khi bàn về Nazi, chúng ta cần xét đến bối cảnh lịch sử và văn hóa tôn giáo tạo điều kiện để chúng trỗi dậy.

Nền tảng Cơ-đốc giáo

Các tông phái Cơ-đốc đã kêu gọi lòng trung thành với những nhà cầm quyền từ sớm, đến nỗi họ không thể tha thứ cho những người phản Cơ-đốc, hay tệ hại hơn là những tên vô thần. Chủ nghĩa bài Do thái của đạo Cơ-đốc xuất phát từ một trong những nỗ lực đầu tiên của nhà thờ nhằm tạo chỗ nương thân với quyền lực. Dẫn giải trong sách Phúc âm để chuyển lời buộc tội Đóng đinh từ người La Mã sang người Do Thái (chuyện “Kẻ giết Chúa Jesus) nhằm cầu mong ân điển từ La Mã, một ví dụ về sự thông đồng từ rất sớm của người Cơ-đốc với ý định chính trị. Sức mạnh từ sự phẫn nộ của tín đồ Cơ-đốc khi người Do thái không chịu cải đạo [3].

Chủ nghĩa bài Do Thái của Cơ-đốc giáo chỉ mang tính bạo lực bộc phát, nhưng khi bạo lực diễn ra, nó là sự hủy diệt. Cuộc thảm sát người Do Thái đầu tiên diễn ra năm 414 CN. Có không biết bao nhiêu cuộc thảm sát nữa, lần tồi tệ nhất gần như đạt đến mức diệt chủng. Nếu tăng trưởng dân số bình thường, người Do Thái hải ngoại hiện nay có thể lên đến hàng trăm triệu. Việc ước tính chỉ có 13 triệu người Do Thái trên phạm vi toàn cầu [4] là kết quả của nạn bạo lực và cưỡng bức cải đạo trên diện rộng của người Cơ-đốc [5].

Việc bài Do Thái được người Cơ-đốc tiên phong thực hiện, bao gồm cả bắt buộc mặc trang phục màu vàng, đẩy xuống hàng thấp kém, tịch thu gia sản, cấm kết hôn với người Cơ-đốc. Những người Tin Lành ấn tượng mạnh mẽ với Martin Luther về luận thuyết năm 1543 mang tên “Về người Do Thái và Lời nói dối của họ” chính là niềm cảm hứng chính của Mein Kampf [6]. Hơn nữa, Luther cũng tán thành luận thuyết bài Do Thái. Chống lại Những tên nông dân trộm cắp và giết người, lời nhục mạ về một cuộc nổi dậy đương thời, gây ra cái chết cho khoảng 100000 người Cơ-đốc và làm cơ sở cho chế độ chuyên quyền Cơ-đốc – Đức đầy khắc nghiệt đang ngoi lên.

Với thời kỳ Khai sáng, các nhà tư tưởng thần luận (tin rằng Chúa là người sáng tạo ra thế giới nhưng không can thiệp vào thế giới) và thế tục (không liên quan tới tôn giáo hay tâm linh) gieo vào văn hóa phương Tây khái niệm dân chủ tự do thời Hi-La. Tầng lớp quý tộc phong kiến và giáo hội cùng lao vào phản bác, tự giác bảo vệ đặc quyền của họ trong Kinh thánh. Cuộc tranh cãi này sẽ định hình nên lịch sử châu Âu. Vào cuối những năm 1870, Giáo hội Cơ-đốc giáo Roman tái khẳng định một chương trình phản động tại Hội đồng Vatican đầu tiên. Được Giáo hoàng siêu bảo thủ Pius IX (tại vị trong giai đoạn 1846-1878), Vatican I lên án gay gắt chủ nghĩa hiện đại, nền dân chủ, chủ nghĩa tư bản, tình trạng cho vay nặng lãi và chủ nghĩa Marx [8]. Chủ nghĩa bài Do Thái cũng được đề cập, bước vào thế kỷ XX, các ấn phẩm chính thống của đạo Cơ-đốc vẫn có giọng điệu không khoan dung vốn sẽ được Nazi noi theo. Chủ nghĩa bài Do Thái hiển nhiên vẫn bảo lưu dòng văn học chính thống của Cơ-đốc thậm chí sau khi bị Giáo hoàng Pius XI (tại vị giai đoạn 1922-1939) chính thức lên án.

Đạo Tin Lành cũng thù hằn sâu sắc với chủ nghĩa hiện đại và nền dân chủ suốt giai đoạn này (chỉ có một chút ngoại lệ ở Bắc Âu). Bởi người Do Thái được cho là theo thuyết duy vật, những kẻ thúc đẩy và tạo điều kiện cho chủ nghĩa Khai sáng hiện đại, hầu hết các tông phái Tin Lành đều bài Do Thái.

Thế kỷ XIX ở châu Âu xuất hiện một phong trào xem đạo Do Thái là một lời nguyền chủng tộc. Cả những người bất đồng quan điểm theo Cơ-đốc lẫn Tinh Lành trong xã hội Đức, Cơ-đốc của người Aryan cũng khác với Cơ-đốc truyền thống khi đều chối bỏ thông tin cả Do Thái (Jew) lẫn Cơ-đốc đều có chung nguồn gốc từ Do Thái giáo (Judaism) [9]. Các tín đồ xem Chúa là một chiến binh Aryan thần thánh, người mang thanh gươm thanh tẩy trái đất khỏi người Jew [10]. Người Aryan được cho là con người đích thực và duy nhất, đặc biệt được Chúa tạo thành thông qua hình tượng Adam và Eve, tất cả dân tộc khác đều chỉ là những con người thiếu linh hồn, thấp dần từ loài vượn hay được tạo nên bởi quỷ Satan vốn không có hi vọng cứu rỗi [11]. Hầu hết những kẻ không-Aryan bị xem như phù hợp với các vai trò hữu dụng như nô lệ, chứ không phải người Do Thái. Vì không có linh hồn nhưng thông minh và ranh ma, người Do Thái bị cho là ôn dịch quỷ dữ cần phải tránh xa và tiêu diệt.

Suốt những năm đó, phong trào Tân Pagan giáo huyền bí thu thập được nhiều tín đồ, họ ấp ủ một ý niệm về Chủ nghĩa thượng đẳng Aryan. Không như người Aryan Cơ-đốc, những người theo học thuyết Aryan mới này nhận thức rằng Chúa là một người Do Thái, bởi vậy họ từ bỏ đạo Cơ-đốc. Họ tin rằng bản thân họ là dòng dõi các á thần có thánh lực đã bị suy thoái nhiều thế kỷ qua bởi việc lai tạp với nhiều giống người hạ đẳng khác. Các vị thần Bắc Âu hay thậm chí là huyền thoại Atlantis thi thoảng được sử dụng để tô điểm thêm cho thần thoại Aryan.

Cố gắng phủ nhận Chủ nghĩa bài Do thái Nazi là một phần của Cơ-đốc giáo, người biện minh Cơ-đốc lại phóng đại tầm ảnh hưởng của học thuyết Aryan mới. Thực lòng mà nói, học thuyết này chưa bao giờ được số đông ủng hộ.

Chủ nghĩa Aryan Đức, dù có theo Cơ-đốc giáo hay không, đều được gọi là “Chủ nghĩa Volkism”. Chủ nghĩa Volkism tiên đoán rằng sự nổi lên của một dân tộc được Chúa lựa chọn sẽ dẫn dắt dân tộc Đức (Volk) đến bước đường vinh quang bằng việc chinh phục lãnh thổ (Lebensraum- không gian sinh tồn). Phương châm thời bấy giờ là “Chúa trời và Volk (Người Đức)”. Bất chấp những mâu thuẫn thần học hiển nhiên có, sự gia tăng số lượng người theo chủ nghĩa dân tộc Đức theo đuổi Chủ nghĩa Aryan thượng đẳng ngay trong các buổi xưng tội của đạo Tin Lành hay Cơ-đốc, nhiều tín đồ đương thời ở Vodoun hay Santeria trộn lẫn sự bí ẩn với niềm tin vào Jesus. Thuyết Darwin thi thoảng góp mặt trong Chủ nghĩa Volkism với vai trò niềm tin trong sự tồn tại thiêng liêng có chủ đích của các dân tộc phù hợp nhất. Dân chủ không có đất diễn ở đây, nhưng triết học Nietzsche lại có tầm ảnh hưởng nhất định – một điểm mà các nhà biện minh sử dụng nhiều. Nhưng ảnh hưởng của Nietzsche rất khiêm tốn, cũng như người theo Volk thấy rằng sự hoài nghi với tôn giáo của ông là không thể chấp nhận [12].

Theo dấu sử xưa, chủ nghĩa vô thần nổi lên thành phong trào xã hội sớm nhất là khoảng giữa thế kỷ XIX [13]. Nó có liên quan đến cả thế giới quan ủng hộ hay phản đối dân chủ. Chịu ảnh hưởng lớn từ khoa học, người vô thần có xu hướng xem con người là hậu duệ của loài vượn. Không có bất kỳ truyền thống bài Do thái nào ở đây cả. Một số người lại chấp nhận quan điểm phân biệt chủng tộc phản khoa học (sau này trở nên phổ biến) rằng các chủng tộc được phân ra thành nhiều cấp độ trí tuệ khác nhau dựa vào kết quả di truyền. Một số đi xa hơn, gán các hình thái ưu sinh khác nhau thành phương tiện cải thiện nhân loại. Nhưng không phải trường hợp nào cũng đặc trưng và đại diện cho vô thần. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc “khoa học” thật ra nên được hiểu là một công cụ để những người Cơ-đốc khắc sâu định kiến văn hóa của riêng họ, không tự dưng mà các chủng tộc đều bị xã hội Cơ-đốc phương tây và cái gọi là “khoa học” xem thường.

Khi tìm kiếm tiền thân của chủ nghĩa bài Do Thái và chế độ độc tài Nazi, ta phải tìm trong số những người Cơ-đốc ở châu Âu chứ không phải người vô thần.

Sau Thế chiến thứ nhất, vấn đề tôn giáo ở châu Âu diễn ra rất phức tạp. Các phát hiện khoa học về tuổi của Trái Đất, thuyết tiến hóa của Darwin hay việc phê bình Kinh thánh đã tiếp đà cho lần mở rộng đầu tiên của phi thần luận (nontheism) vốn có thể làm mất uy tín của đạo Cơ-đốc với các tín đồ bình thường ở châu Âu. Sự trợ giúp của nhà thờ với cuộc Đại chiến thảm họa tạo nên sự bất mãn của công chúng, cũng như với thoái lui của Hoàng đế (Kaiser), người được cả giáo sĩ Tin Lành lẫn Công giáo nhất mực tin tưởng [14]. Nhưng vấn đề là không phải nơi nào cũng tháo lui, nước Đức thời hậu chiến trải qua cuộc phục hưng tinh thần Cơ-đốc ngoài nhà thờ truyền thống [15]. Tự do tín ngưỡng là điều chưa từng có, nhưng các nhà thờ được thành lập đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi ngày càng tăng của chính quyền và kiểm soát hệ thống giáo dục của riêng họ. Các nhà thờ lúc này có sức ảnh hưởng hơn bây giờ nhiều.

Khoảng ⅔ người Đức theo đạo Tin Lành, hầu hết số còn lại theo Cơ-đốc. Phần thiểu số ngoại đạo chiếm khoảng 5%. Chủ nghĩa phi thần rõ ràng bị giới hạn bởi tầng lớp tri thức tinh hoa và những tên xã hội chủ nghĩa. Chỉ 1.5% người Đức thừa nhận rằng họ không tin thần thánh trong cuộc điều tra dân số năm 1939, nghĩa là có rất ít người Nazi và Đảng viên Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa là vô thần, kể cả việc những người vô thần, thậm chí cả những người vô thân cũng sợ xác nhận điều đó với chế độ hữu thần.

Hầu hết người hữu thần Đức ghê tởm với sự không có tín ngưỡng, chủ nghĩa thế tục và chủ nghĩa khoái lạc suy đồi vốn liên quan đến những ý tưởng hiện đại như dân chủ và tự do ngôn luận. Nếu họ lo sợ dân chủ, họ thậm chí sợ hãi chủ nghĩa Cộng sản, đến mức sẵn sàng chấp nhận phương pháp đấu tranh cực đoan.

Vì vậy những người phân biệt chủng tộc sâu sắc phần đông theo đạo Cơ-đốc, thường phản đối dân chủ và dành sự tôn kính cho nên văn hóa nguyên thủy phương Tây đầy nguy hiểm bên trong cái chủ nghĩa Nazi sẽ trỗi dậy. Đó là cái thùng chứa bột thần thánh sẵn sàng phát nổ.

Những nhà lãnh đạo Nazi, hữu thần luận và giá trị gia đình.

Theo các bản lý lịch chuẩn, những người lãnh đạo Nazi được sinh ra, rửa tội và nuôi nấng trong môi trường Cơ-đốc giáo. Hầu hết họ trưởng thành dưới mái nhà gia giáo và ngoan đạo, nơi các giá trị khoan dung và dân chủ bị dè bỉu. Những thủ lĩnh Nazi có nền tảng Cơ-đốc bao gồm Adolf Hitler, Heinrich Himmler, Reinhard Heydrich, and Joseph Goebbels.

Hitler học tập rất tốt trong trường nhà dòng. Ông hát ca đoàn, đi đến Thánh Lễ và các buổi lễ say mê khác và thần tượng các linh mục. Mê mẩn với quyền năng của họ, ông từng một thời nghĩ đến việc trở thành một linh mục.

Rudolf Hoess, vị tư lệnh tại trại tập trung Auschwitz-Birkinau tiên phong trong việc sử dụng khí Zyklon-B sát hại một nửa số nạn nhân của Holocaust, lại là một con chiên nhà nòi. Hermann Goering thừa hưởng cả Cơ-đốc lẫn Tin Lành từ cha mẹ, trong khi Rudolf Hess, Martin Bormann, Albert Speer và Adolf Eichmann có nền tảng Tin Lành. Không ai trong số những thủ lĩnh tối cao Nazi lớn lên trong một gia đình tự do hay vô thần – không nghi ngờ gì nữa, cha mẹ của bất kỳ ai trong số họ cũng đều cho rằng những điều đó thật bê bối. Những người theo truyền thống sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến việc tước đi nền tảng đạo đức dựa trên đức tin mà con cháu họ cần để trở thành người có đạo đức.

Quá nhiều thứ để bàn về nền tảng tâm linh của họ. Thẩm định quan điểm tôn giáo của họ khi trưởng thành lại càng khó hơn. Về những vấn đề phụ như tôn giáo, học thuyết của Đảng là một mớ hỗn độn có chủ đích [16]. Với Hitler, sự nhất quán kém quan trọng hơn việc ứng biến trước một tình huống có thể xảy ra. Lịch sử ghi nhận nhiều điều chứng từ hay phát ngôn của Hitler về tôn giáo, nhưng chúng cũng chỉ thi thoảng trái ngược nhau. Phần nhiều được thảo ra trước một nhóm thính giả hay một sự kiện và có giá trị trong việc tường minh quan điểm của Hitler. Trong tất cả trường hợp, cả Hitler hay bất kỳ thủ lĩnh chủ chốt nào của Nazi đều không phải là một nhà thần học được đào tạo bài bản với những quan điểm suy nghĩ cẩn thận.

Sự chính xác của bản ghi cũng rất đáng quan tâm. Các buổi nói chuyện công chúng của Hitler được ghi lại rất xác tín, nhưng thường mang tính tuyên truyền. Các phát biểu cá nhân dường như phản ánh quan điểm thực hơn, nhưng độ tin cậy của chúng thì rất khác nhau [17]. Những đoạn xin lỗi Chúa ngân lên thường xuyên đặt ra dấu hỏi liệu chủ nghĩa vô thần của Hitler có thực sự tồn tại. Những người xin lỗi thường khua khoắn mà không sợ bất kỳ dè dặt nào từ các sử gia. Tự do cá nhân của Hitler được bảo lưu phần nào, và thói quen đọc sách vẫn được ông duy trì, đó là một cách cửa khác để thâm nhập vào niềm tin của ông [18]. Một điều quan trọng nữa thường bị các biện lý bỏ qua là những phát ngôn của những nhân vật tôn giáo đương thời, ít ra theo quan điểm số đông, những người xem Hitler là một người Cơ-đốc và là người Công giáo có nhân cách. Dù vậy, lời khai từ các bức ảnh thật đáng nguyền rủa, nhiều người biện hộ phải đau đầu với những bằng chứng rõ ràng này.

Bất chấp những khó khăn đó, vẫn có đủ bằng chứng để dựng lên một bức tranh tương đối về niềm tin của Hitler và những nhà lãnh đạo Nazi.

Hitler là một người Cơ-đốc, nhưng Đức Chúa của ông ta không phải là người Do Thái. Trong suốt thời trai trẻ, ông mò mẫm với tư tưởng huyền bí nhưng không bao giờ trở thành người mộ đạo. Khi con trẻ, sự phóng túng của ông lớn lên và dừng lại trước nhà thờ. Ban đầu không bài Do Thái hơn thông thường, trong những năm trước Đệ nhất Thế chiến, ông chìm đắm trong tư tưởng bài Do Thái của Đảng Công giáo Xã hội Volkish và các phong trào Aryan. Sau khi Đức thất trận và khái niệm hòa bình tan vỡ, Hitler trở nên cuồng tín với chủ nghĩa Aryan và bài Do Thái. Ông ta ám ảnh với vấn đề phân biệt chủng tộc, thứ ông vô tình ngấm vào trong bối cảnh tôn giáo.

Những người biện hộ thường chỉ ra rằng Hitler không có niềm tin vào Chúa bởi ông ta tự cho rằng mình chính là Chúa. Thật vậy, Hitler nghĩ ông ta là nhà lãnh đạo được Chúa lựa chọn cho giống nòi Aryan. Nhưng ông ta không bao giờ tuyên bố có thánh lực và cũng không hề chứng tỏ điều đó với những người ủng hộ. Các thành viên của Wehrmacht tuyên thệ rằng: “Tôi nhân danh Chúa tuyên thệ lời thiêng liêng này với Quốc trưởng (Führer) của Đế chế Đức và dân tộc Đức, Adolf Hitler”. Với Đội cận vệ (Schutzstaffel, viết tắt là S.S – ND) lời thề đó là: “Tôi hứa với ngài, Adolf Hitler, sẽ tuân lệnh đến cùng, mong ngài hãy giúp tôi, Đức Chúa”.

Hitler liên tục cám ơn Chúa hay Lời thánh cho việc ông ta có thể sống sót trên mặt trận phía Tây trong suốt Đệ nhất Thế chiến, cho sự trốn thoát an toàn khỏi những nỗ lực sát hại, cho sự thăng tiến thần kỳ từ tình trạng vô gia cư đến khi đạt được tầm ảnh hưởng và quyền lực, cho những thành công vi diệu của ông trên trường quốc tế. Ông không bao giờ ngừng cho rằng tất cả điều này nằm ngoài sức mạnh của một người phàm. Sau chiến tranh, Hitler miêu tả sự thất bại của người Đức như một phần của bài kiểm tra của thiên mệnh: Chúa sẽ ban cho dân tộc được ngài lựa chọn chiến thắng cuối cùng, họ xứng đáng với điều đó bởi họ không ngừng đấu tranh.

Biểu tượng của Đế chế cũng vậy, nó hé lộ rằng Chủ nghĩa Nazi không bao giờ cắt bỏ mối liên hệ với đạo Cơ-đốc. Biểu tượng trên phi cơ Luftwaffe chỉ gồm hai chữ Vạn và sáu dấu chéo. Tương tự với lá cờ Kreigsmarine của Hải quân Đức cũng kết hợp các biểu tượng này. Hitler tham gia vào nhóm những người cầu nguyện cộng đồng và phục vụ tôn giáo, tại đó chữ Vạn và dấu chéo hiển thị cùng nhau.

Hitler rất kính ngưỡng Martin Luther, người được ông xem là nhà cải cách trác tuyệt [19]. Nhưng ông ta nói trong nhiều cuộc trò chuyện riêng tư rằng ông tự xem mình là người Cơ-đốc. Ông nhiều lần phát biểu công chúng rằng Chúa là cứu tinh của đời ông. Cuối năm 1944, khi lên kế hoạch tấn công cuối cùng được biết đến với tên gọi Trận chiến Bulge, ông ta tự gọi nó là “Operation Christrose” (Chiến dịch hoa hồng của Chúa”).

Trong số những người thân cận với Nazi, Hitler thường xuyên lên án gay gắt những nhà thờ được thiết lập. Một vài trong số lời cáo buộc này đem đến nhiều hoài nghi [20], nhưng rõ ràng ông ta đã xem niềm tin vào Cơ-đốc giáo truyền thống đã suy đồi và bị đạo Do Thái làm ô uế. Cũng như vậy, không có cơ sở nào để nói rằng ông ta là một kẻ phản Cơ-đốc hay phản tôn giáo sau khi lên nắm quyền. Chẳng có dẫn chứng khả tín nào cho thấy Hitler là người vô thần hay tin vào thuyết vô thần. Trái lại, ông ta thường lên án thuyết vô thần, cũng bởi ông làm việc với những người Cơ-đốc cộng tác với các lực lượng vô thần như Bolshevik. Ông liên tục phủ nhận rằng quốc gia sẽ đặt lại niềm tin và chỉ thị cho Speer phải đưa nhà thờ vào kế hoạch thân thương nhằm tái thiết Berlin của ông. Hiến pháp thời kỳ Nazi gợi lên hình ảnh của Chúa. Theo tính toán, thắng lợi của ông trên cõi Âu lục và trước Bolshevik sẽ khiến ông có được danh tiếng khiến cho mọi người đều sẵn sàng từ bỏ niềm tin truyền thống của mình. Hitler nuôi hi vọng thay thế đạo Tin Lành và đạo Cơ-đốc bằng một giáo hội Cơ-đốc cải cách bao gồm toàn thể tộc Aryan nhưng lại xóa bỏ ảnh hưởng từ bên ngoài (của Rome). Tín đồ Tin Lành Đức đã từ chối một nỗ lực khiêm tốn hơn với những khẩu hiệu trên, như sẽ thấy bên dưới. Câu hỏi làm thế nào toàn thể dân tộc Đức nhận được cải cách này sau khi Nazi thắng lợi được đặt ra. Nhiều khi, Hitler tự thấy mình là nhà cải cách Cơ-đốc tối thượng chứ không phải là nhà quân sự.

Hitler là một nhân vật đầy phức tạp, nhưng dựa trên bằng chứng sẵn có, chúng ta có thể kết luận việc điều tra nhắm vào niềm tin tôn giáo cá nhân của ông bằng cách miêu tả ông ta là một tín đồ Cơ-đốc theo chủ thuyết dân tộc Đức-Aryan vốn có cội rễ Công giáo, bị ảnh hưởng sâu sắc bởi đạo Tin Lành và bị tác động bởi các thuyết Tân Pagan và thuyết Darwin, ít chịu sự ảnh hưởng từ sự huyền bí. Mặc dù Hitler kính ngưỡng Chúa và tôn giáo, ông ta lại xem chính trị quan trọng hơn và là phương tiện phải đạt được trong cuộc đời mình.

Không có lãnh đạo cấp dưới nào ngay sau Hitler là một con chiên ngoan đạo cả. Nhưng cũng chẳng có bằng chứng thuyết phục nào cho việc họ đều vô thần. Bất kỳ bị cáo nào cũng đều kịch liệt phủ nhận cáo buộc.

Thống chế Himmler thường tham dự các buổi lễ Công giáo cho đến khi ông chuyển sang một chủ nghĩa Aryan kì dị. Ông ủy quyền đi tìm Chén Thánh và các thánh tích Cơ-đốc và Cathar được cho là đầy quyền năng khác. Là một người tin vào luân hồi, ông ta viễn chinh sang Tây Tạng và vùng nhiệt đới châu Mỹ để tìm kiếm những người Aryan nguyên gốc và thậm chí cả người Atlantic. Ông ta và Heydrich mô phỏng S.S theo các giáo sĩ dòng Tên đầy kỉ luật và bí mật, bởi vậy họ không chấp nhận kết nạp người vô thần [21]. Goering, người ít tư tưởng nhất trong số lãnh đạo Nazi, thỉnh thoảng thừa nhận cả truyền thống Tin Lành lẫn Cơ-đốc nhưng khi có cơ hội thì ông lại chỉ trích cả hai. Goebbels quay sang phản Cơ-đốc để ủng hộ với tín ngưỡng Aryan mới; nhưng con cái của ông ta cũng như của Goering đều được rửa tội. Bormann lại phản đối gay gắt Cơ-đốc giáo được tổ chức đương thời; ông là lãnh đạo của “Đấu tranh với Giáo hội”, một chiến dịch đầy mâu thuẫn được Nazi chấp thuận để chống lại sự ảnh hưởng của các nhà thờ [22].

Nazi bênh vực cho giá trị truyền thống gia đình: ý thức hệ của họ là bảo thủ, tư sản, gia trưởng và cực đoan. Kỷ luật và tuân thủ được nhấn mạnh, hôn nhân được ủng hộ, nạn phá thai và tình trạng đồng tính luyến ái bị loại bỏ [23].

Chủ nghĩa truyền thống cũng thống lĩnh trong triết học Nazi như nó đã từng. Dầu cho khoa học công nghệ có được ngợi khen, nhưng chúng vẫn chống lại phong trào Khai sáng, chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa duy trí và duy lý. Thật khó để mường tượng ra làm thế nào mà một phong trào trong nghị trình có thể kết thân với thuyết vô thần trong khi Nazi lại không. Chủ nghĩa Dân tộc Đức (Volkism) vốn cũng thù địch với chủ nghĩa vô thần: những nhà tư tưởng tự do xung đột thường xuyên với Nazi trong những năm cuối 20, đầu 30. Trong lúc cầm quyền, Hitler cấm các tổ chức tự do tư tưởng và lập nên một phong trào “chống những tên vô thần”. Trong bài phát biểu năm 1933, ông tuyên bố: “Chúng ta đảm nhận cuộc chiến chống phong trào vô thần không chỉ bằng vài câu nói suông; chúng ta xóa sạch chúng”. Sự đối đầu trực tiếp này đơn giản hơn nhiều so với sự phức tạp của Nazi vốn có lập trường trái ngược với niềm tin vào Cơ-đốc giáo truyền thống.

Chôn vùi nền dân chủ: sự kết hợp giữa tôn giáo và chính trị

Như sử gia Ian Kershaw mô tả, Hitler không hề giấu giếm ý định hủy diệt nền dân chủ. Nhưng ông ta đạt được quyền lực hợp pháp, điều này không có nghĩa là ông là một bạo chúa với người dân Đức.

Sự tiếp quản của Nazi lên đến cực điểm là sự chối bỏ dai dẳng đầy mỉa mai đối với nền dân chủ trong tay phần lớn cử tri Đức. Khoảng đầu thập niên 1930, những người Đức bình thường đã mất kiên nhẫn với nền dân chủ, ngày càng nhiều người hi vọng vào một nhà độc tài mạnh mẽ sẽ khôi phục lại trật tự và sự thịnh vượng, đưa nước Đức trở lại vị thế siêu cường. Gần hai phần ba người Cơ-đốc giáo Đức tái bỏ phiếu cho các ứng viên hứa hẹn lật đổ nền dân chủ. Chủ nghĩa độc tài ngự trị và không thể tránh khỏi, vấn đề chỉ là ai sẽ là nhà lãnh đạo mạnh mẽ mới đây.

Điều gì khiến cho nền dân chủ mong manh đến vậy? Sử gia Klaus Scholder giải thích rằng nước Đức từ sâu xa thiếu một truyền thống dân chủ, và rất khó để tạo nên điều đó bởi xã hội Đức bị phân tách triệt để thành hai khối Tin Lành và Công giáo. Sự phân cực này tạo ra xu thế cạnh tranh, sợ hãi và định kiến giữa những lời nguyện, những thứ đè nặng lên cả chính sách đối nội lẫn đối ngoại của Đức như một nhân tố ý thức hệ có sức nặng và mức độ khôn lường. Xu thế này dựng lên một rào cản gần như không thể vượt qua trong việc định hình nên trung tâm dân chủ rộng rãi. Và nó tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của Hitler, vì rốt cuộc cả hai giáo hội đều chấp thuận sự ủng hộ của ông, đều sợ rằng đối phương sẽ hòan thành Cải cách hay Phản Cải cách với Hitler [24].

Kế hoạch được lập trình kỹ lưỡng, Hitler thanh trừng một số tên cấp tiến Volkish trong Nazi, những kẻ thù ghét giáo hội Cơ-đốc truyền thống nhiều nhất. Bằng cách này ông ta làm giảm nguy cơ phản kháng từ giáo hội. Cùng lúc đó, ông biết rằng sự hiện diện của những người Công giáo lẫn Tin Lành trong bộ máy lãnh đạo Nazi sẽ xoa dịu nỗi sợ của các giáo dân rằng Đảng đi theo khuynh hướng bè phái.

Mặc dù có nhiều lãnh đạo theo đạo Cơ-đốc (gồm cả Hitler), Đảng Nazi lại tin vào sự ủng hộ của đạo Tin Lành. Những người Tin Lành là những người ủng hộ chính cho Đảng từ những năm 1933 hơn hẳn các thành phần khác trong nước [25]. Thế hệ thanh niên Tin Lành đặc biệt ủng hộ Nazi, ước tính khoảng 90% giáo sư thần học trong các trường đại học Tin Lành ủng hộ Đảng. Thật ra, việc quá nhiều người Tin Lành có vị thế thanh gia tạo ra bầu không khí hợp pháp dễ chịu từ sớm cho Đảng theo khuynh hướng “giang hồ” này. Vì vậy cảnh tượng các đơn vị của Binh đoàn Bão táp (Sturmabteilung, viết tắt là S.A – ND) mặc quân phục đến nhà thờ.

Đời sống của người Đức giữa hai cuộc chiến tranh ngày một kham khổ, một số mục sư Tin Lành công nhiên bảo vệ cho những vụ giết người của Nazi đối với những kẻ “phản bội Dân tộc” ngay trên bục giảng. Một chủ đề mơ hồ về khả năng thích ứng giữa Volkist với Tin Lành trở thành lãnh đạo tinh thần thời đó [26]. Điều này không quá bất ngờ khi chúng ta xem chủ nghĩa Dân tộc và Đạo Tin Lành Đức đều mang tinh thần dân tộc mạnh mẽ; Tân giáo dòng Luther cũng có gốc rễ từ nước Đức.

Ảo ảnh về sự hòa hợp đã lôi cuốn Hitler vào một nỗ lực trong sáng nhằm hợp nhất giáo hội Tin Lành Đức vào bộ máy Dân tộc đơn nhất dưới sự kiểm soát của Nazi. Ra đời không lâu sau khi Nazi lên nắm quyền, kế hoạch này lại nhanh chóng đổ bể. Các tông phái Phúc âm tỏ ra không sẵn sàng hợp tác với nhau, dẫu cho nhiều người trong số đó đều bị Nazi hóa.

Công giáo và Sự nắm quyền của Nazi

Tuy nhiên, trớ trêu thay, như chúng ta sẽ thấy, vì những lí do rõ ràng, Thủ tướng Hitler đã có được thành công ban đầu lớn hơn hơn với những nhà lãnh đạo Giáo hội Roma so với Giáo hội Tin Lành. Trớ trêu là ở chỗ Đảng Công giáo Zemtrum (Trung dung) đã chịu trách nhiệm chính cho việc phủ nhận đa số với Nazi trong những cuộc bầu cử trước. Mặc dù theo quan điểm dòng Teuton, những người Công giáo Đức lại có mối liên hệ tinh thần chặt chẽ với Roma. Họ là một nhóm có ít tinh thần dân tộc hơn hầu hết người Tin lành. Những người Công giáo có nhiều khả năng xem Hitler là người vô thần hay một tên tân ngoại đạo và phản Cơ-đốc hơn những người Tin Lành. Giới tăng lữ Công giáo liên tục tố cáo chủ nghĩa Nazi, mặc dù họ thường tự hạ thấp mình bằng cách rao giảng về chủ nghĩa bài Do thái truyền thống.

Thậm chí có như vậy, dù ở vai trò thứ yếu, hành động của những người Công giáo Đức và Giáo hội Công giáo Roma cuối cùng cũng đưa toàn bộ quyền lực vào tay Nazi.

Mặc dù không phải là không có những nhà phản hiện đại, đảng Công giáo Zentrum vẫn chống đối Vatican suốt những năm 1920 bằng việc tạo nên liên minh cầm quyền với các Đảng phái Dân chủ Xã hội theo khuynh hướng Cánh tả trung dung. Điều này đã thay đổi vào năm 1928 khi linh mục Ludwig Kaas trở thành linh mục đầu tiên lãnh đạo đảng. Với sự sửng sốt của nhiều người Công giáo, Kaas và các chính trị gia Công giáo khác đã trực tiếp lẫn gián tiếp tham gia vào việc phá vỡ đường lối dân chủ, cụ thể là ngay trong Zentrum.

Vị thủ tướng sùng Công giáo, Franz von Papen vốn không phải là nhà phát xít nhưng lại theo khuynh hướng cánh hữu, ông đứng đằng sau chiến thắng thông qua bầu cử đã đưa Hitler lên nắm quyền. Papen đã giải tán Reichstag năm 1932, sau đó lập ra liên minh Zentrum-Nazi để chống lại tất cả nguyên tắc trước đây. Cũng chính Papen đã đưa Hitler lên làm thủ tướng năm 1933 còn ông lùi xuống giữ chức phó thủ tướng.

Tuyên bố chung rằng Papen hành động với hi vọng Nazi có thể được kiểm soát và mất tín nhiệm hoàn toàn có thể đúng, một phần đúng, hoặc sai; nhưng nếu Papen không quyết định liều lĩnh như vậy thì Hitler sẽ không bao giờ trở thành lãnh tụ của nước Đức.

Giáo hội chúc mừng Hitler khi ông lên nắm quyền. Các giám mục Đức thốt ra những lời xóa sạch những chỉ trích trước đây về chủ nghĩa Nazi bằng tuyên bố rằng chế độ mới được chấp nhận, theo sau đó là học thuyết kêu gọi giáo dân phải trung thành với chế độ này cũng như đã trung thành với chế độ trước. Từ khi Giáo hội Công giáo góp phần vào việc đưa Hitler lên nắm quyền và làm việc trong nội các của ông, các vị linh mục hầu như không có lựa chọn nào ngoại trừ phải hợp tác.

Người Công giáo Đức bị choáng trước quy mô và sự đường đột của việc tái cấu trúc này. Những người tuyệt đối trung thành với nhà thờ đã chuyển đổi từ việc ra lệnh cho giáo dân chống đối Nazi đến việc yêu cầu hợp tác. Đa số giáo dân Công giáo Đức kinh hãi và chán nản. Nhưng hầu hết “nhận chỉ thị giúp đỡ, thật ra là hân hoan, bởi cuối cùng họ cũng có cách thâm nhập vào với Đế chế Thứ ba cho người Công giáo” như hàng triệu người Tin Lành, những người đang làm hỏng giấc mơ về một liên minh dân tộc Nazi-Công giáo-Tin Lành đã từng đạt được [27]. Sự ủng hộ của Công giáo với Nazi tăng lên trong cuộc bầu cử đa đảng cuối cùng sau khi Hitler thâu tóm quyền kiểm soát, nhân đôi ở một số khu vực, và truyền cảm hứng cho một thay đổi tư tưởng hàng loạt của người Công giáo từ Zentrum đến phát xít. Sau khi Reichstag giải thể, Zentrum bỏ phiếu tán thành Đạo luật Được phép Hành động, cho phép nội các Hitler-Papen có quyền hành pháp và lập pháp độc lập với Quốc hội Đức. Lá phiếu của Zentrum đảm bảo ⅔ đa số cần thiết để thông qua Đạo luật.

Tại sao giáo hội lại chỉ đạo đảng phái của mình thay đổi lá phiếu? Có nghị trình cả, chúng ta sẽ xem bên dưới.

Nhân từ với Qủy dữ

Thậm chí sau Đạo luật Được phép Hành động, Vị trí của Hitler vẫn rất mong manh. Việc Nazi cần làm là đào sâu sự ủng hộ của quần chúng và quan hệ bền vững với quân đội Đức còn đầy hoài nghi. Hitler cần liên minh với tất cả tộc người Aryan dưới lá cờ chữ Vạn đồng thời làm suy yếu tinh thần của các thế lực đối lập. Điều gì làm củng cố địa vị của Hitler? Một cuộc đảo chính từ bên ngoài: Hiệp ước Concordat năm 1933 được ký kết giữa chính quyền Nazi Đức với Vatican.

Tính hợp pháp quốc gia và quốc tế Hitler đạt được thông qua hiệp ước này là vô cùng to lớn. Không thể cứu vãn được nó sau nỗ lực mạnh mẽ và không ngừng có thể sẽ tạo ra sự sỉ nhục lớn. Hitler dồn toàn lực cho dự án này. Ông tranh thủ ủng hộ của Tòa thánh, nhấn mạnh vào chủ trương Cơ-đốc của riêng mình, đồng thời nỗ lực đe dọa Vatican bằng sức mạnh đang ngày một lớn của mình.

Những biện lý Cơ-đốc mô tả về Concordat 1933 như một bước chuyển cần thiết của Giáo hội trong cơn tuyệt vọng để bảo vệ chính mình trước một chế độ bạo lực buộc phải tuân theo nó, nhờ đó họ vượt qua mâu thuẫn giữa tâm điểm chỉ trích. Thật ra, thất bại trước đó trong nỗ lực đàm phán với một nền dân chủ Weimar đầy hoài nghi, cả Kaas, Papen, Giáo hoàng tương lai Pius XII (trị vì giai đoạn 1939-1958), Giáo hoàng đương nhiệm Pius XI, và các lãnh đạo Cơ-đốc giáo khác xem cơ hội này chỉ để đạt được điều họ đang tìm kiếm từ những người ủng hộ nhà thờ, tức với với Hitler, trong một khoảnh khắc lịch sử khi ông và chủ nghĩa phát xít nhìn chung được nghiễm nhiên xem là đồng minh với Giáo hội [28]. Các cuộc đàm phán được khởi xướng của cả hai phía, được mô phỏng trên biên bản hợp tác đôi bên cùng có lợi giữa Mussolini với Vatican năm 1929.

Vai trò then chốt của Zentrum lúc này trong việc đảm bảo Được phép Hành động được thông qua vào lúc này. Đây là một phần trong thỏa thuận ngầm giữa Nazi và Vatican về tương lai của hiệp ước [29]. Việc bỏ phiếu cho Được phép Hành động với Zentrum chỉ là vỏ bọc giả dối. Vì vậy, một tu sĩ thích thú với quyền lực nhà thờ hơn nhiều so với nền chính trị dân chủ có thể điều khiển cả hai trên bàn đàm phán. Trong cuộc xung đột lợi ích tất yếu, quý ngài Papen sùng đạo đã đại diện cho nhà nước Đức. Việc đàm phán hiệp ước diễn ra phần lớn ở Rome, vì vậy Kaas có thể rời khỏi đảng phái đang tan rã nhưng không cần định hướng nữa. Papen, Kaas và Giáo hoàng tương lai Pius XII đã làm việc không ngừng để chốt lại một hiệp ước, cùng với những thứ khác, sẽ đặt dấu chấm hết cho Zentrum. Trong lúc đàm phán để xóa bỏ đảng mình lãnh đạo, Kaas đã loại đi thực thể chính trị cuối cùng có thể chống đối vị Quốc trưởng mới [30]. Cả Vatican cũng không thể bảo vệ được cho đảng Công giáo Đức. Trái với tranh cãi của một số người, bằng chứng cho thấy rằng Vatican rất vui lòng thương lượng để xóa bỏ tất cả dấu vết tồn tại của Zentrum vốn đã hết giá trị sử dụng. Tại đây, Tòa Thánh hành xử với Zentrum không khác gì với đảng Công giáo Ý trong Hiệp ước thỏa thuận với Mussolini.

Hitler tìm cách loại bỏ sự chống đối từ Công giáo để họ phục tùng với chế độ của ông. Về điểm này, nhà thờ bị ám ảnh với đặc quyền giáo dục của mình [31], và đặc biệt là phải đảm bảo các nguồn thu nhập mới. Họ sẵn sàng hi sinh quyền lực chính trị để bảo vệ mình. Cả hai đều gấp rút ban hành hiệp ước mà thông thường cần nhiều năm để hoàn thành, Hitler đã tận dụng thành công sự háo hức Vatican. Vô cùng “chắc chắn rằng Rome không thể trở mặt, [Hitler] giờ đây có thể đàm phán hầu hết cái gì ông muốn. Hồ sơ đã chứng tỏ rằng ông đã tận dụng tối đa quyền lực của mình” [32]. Thật ra, Hitler đã quá tự tin khi cho rằng ông đã nắm Giáo hội trong lòng bàn tay để tiến đến việc ban hành sắc lệnh triệt sản khét tiếng của mình trước khi Concordat có hiệu lực. Kế hoạch triệt sản không ép buộc của Hitler với một nhóm người và với những người mắc bệnh tâm thần như một sự sỉ nhục trực tiếp đối với Công giáo. Nhưng theo Hitler phỏng đoán, sự khiêu khích này có thể không làm chệch hướng Tòa Thánh trong sự gấp rút phải ký kết Concordat. Vì những giáo dân bình thường đã ủng hộ Nazi, đảng thậm chí có cảm giác tự do sử dụng bạo lực để chống lại những hành nhà hoạt động chính trị còn sót lại của Công giáo, thường xuyên gián đoạn các cuộc biểu tình của họ.

Được ký ngày 20 tháng 7 năm 1933, Concordat vốn đã được sắp xếp trước khi các cuộc đàm phán đa phần được thực hiện bí mật. Hầu hết giáo sĩ Đức thể hiện lòng trung thành, dẫu có bất lực khi phải chấp nhận sự thật rằng quyền lực của họ sẽ bị cướp mất. Một ít người phản đối, phê phán sự thiếu đạo đức của chế độ Nazi (nhưng không đời nào nói đến sự thiếu dân chủ của họ).

Concordat là một âm mưu trả đũa chính trị kinh điển. Giáo hội ủng hộ nền độc tài mới bằng việc thừa nhận sự cáo chung của nền dân chủ và tự do ngôn luận. Thêm vào đó họ ràng buộc các giáo sĩ phải tuyên thệ trung thành với Đế chế của Hitler. Đổi lại, Giáo hội nhận được khoản lợi tức thuế kếch xù và sự bảo vệ cho những đặc ân của mình. Giáo dục tôn giáo và cầu nguyện trong trường học được phục hồi. Việc chỉ trích nhà thờ bị cấm. Dĩ nhiên, chẳng có điều khoản nào trong Concordat bảo vệ quyền của những người ngoài Công giáo.

Nếu chính quyền Công giáo thất vọng với các điều khoản của Concordat, họ cũng không chỉ nói ra mà chỉ gởi thông điệp chúc mừng đến nhà độc tài. Ở Rome, một lễ kỷ niệm được tổ chức sau khi hiệp ước được ký kết bởi Papen và Giáo hoàng tương lai Pius XII trong khung cảnh đầy nguy nga. Ở Đức, Giáo hội và chính quyền Berlin cùng tổ chức ngày lễ tạ ơn cho cả ông giáo, Đế chế, gồm cả cờ phướn chữ Vạn. Chương trình âm nhạc pha lẫn cả thánh ca với màn trình diễn sôi động thể hiện quốc ca của Nazi “Horst Wessel”, về cơ bản được phối với bài thánh ca truyền thống “Lớn bấy duy Ngài” (How Great Thou Art). Tất cả đều dự kiến được truyền qua loa phát thanh đến đám đông nhiệt thành ngoài kia; bởi hầu hết người Công giáo Đức đều hân hoan với Concordat, buổi lễ tạ hơn chung đã thu hút nhiều hơn số lượng mà nhà thờ Berlin có thể tổ chức.

Scholder bàn rằng “bất cứ ai thấy điều gì từ điểm nhìn của người La Mã có thể đi đến kết luận rằng … hiệp ước là … một thành công không thể diễn ra được của Công giáo. Thậm chí một năm trước, Tòa Thánh chỉ dám mơ đạt được sự nhượng bộ trong Concordat… Về phía Công giáo, Concordat được mô tả là ‘một điều gì đó thật tuyệt’, tóm gọn lại trong một từ ‘tuyệt tác’” [33]. Phản ứng của Công giáo nhiều đến nỗi Hitler phải thấy phải cảnh giác trước các giáo sĩ Tin Lành và những người cấp tiến Nazi, những kẻ xem mối quan hệ thân thiết bất thường với Rome là sự phản bội.

Thực tế, kết quả của sự hợp tác là quá rõ. Hầu hết người Công giáo “sớm hòa hợp với chế độ độc tài” [34]; thực ra họ còn đổ xô vào Đảng. Các kiểu thức bỏ phiếu thời hậu Concordat chỉ ra rằng người Công giáo bình quân còn ủng hộ chế độ nhiều hơn cả người Tin Lành, làm suy giảm bất kỳ nỗ lực nào của các giáo sĩ đối với chính quyền Nazi. Nhiều khi các giáo sĩ Công giáo còn bị “giác ngộ” Nazi. Thậm chí S.S. còn chào đón các giáo dân Công giáo, những người sẽ chiếm đến một phần tư số thành viên của họ.

Hậu quả tai hại của Concordat tất nhiên không hề được phóng đại. Nó ràng buộc tất cả con chiên Công giáo Đức ngoan đạo với nhà nước – giáo sĩ sĩ thì bằng qua lời thề và lợi tức, giáo dân thì bằng quyền lực nhà thờ. Nếu bất kì lúc nào chế độ chọn cách phớt lờ hiệp ước, Công giáo cũng chẳng có quyền được hợp pháp phản đối chính quyền hay chính sách. Việc chống lại Nazi, với những người Công giáo hay ngoài Công giáo, đều bị phớt lờ hay gạt bỏ bởi nhà thờ đã thể hiện mong muốn liên kết và nhất quán về đạo đức như vậy.

Các biện lý vẫn nhất mực cho rằng Giáo hội không có quyền lựa chọn nào khác trừ việc phải chấp nhận Concordat vì sự bảo vệ tối thiểu nó mang lại. Nhưng những điều khoản đó thì chẳng bao giờ dùng tới. Các tông phái Tin Lành chính phải chịu đựng sức ép lớn hơn Cơ-đốc, dầu vậy các nhà thờ Tin Lành lại thiếu những thỏa thuận bảo vệ và đã hắt hủi nỗ lực ban đầu của Hitler nhằm hợp nhất họ. Các biện lý tạo ra nhiều sự “chống đối” của Vatican với Nazi, nhưng động thái bao trùm lên chính sách của Vatican với Hitler là sự hợp tác.

Thật ra, Hiệp định Concordat 1933 được xem là một trong những thỏa thuận phi đạo đức, đồi bại, xảo trá và nguy hiểm nhất giữa chính quyền độc tài. Có lẽ chiến lược của Công giáo là kéo dài chế độ chuyên chế phổ biến của Nazi hơn là cố gắng hạ bệ nó. Nhưng Giáo hội Công giáo không chút cố gắng nào để thu hồi lại Concordat và điều khoản trung thành suốt giai đoạn Nazi. Thật ra, Concordat 1933 chỉ là một hiệp ước ngoại giao đạt được với Nazi nhằm duy trì quân sự ở bất cứ đâu trên thế giới.

Các tông phái Tin Lành Đức bị cho ra rìa đến nỗi bị kiểm soát bởi một văn kiện riêng. Ở mức độ này, những người Tin Lành phản đối về chính sách của Nazi có thể bị cho là hưởng một vị trí thuận lợi hơn người Công giáo. Nhưng nghịch cảnh này với người Tin Lành là quá hiếm. Hitler vẫn mua chuộc các giáo phái lớn ngay cả khi họ gây cảm tình với ông một cách đầy hoài nghi. Hầu hết các tiểu phái Cơ-đốc truyền thống lại làm tốt hơn một chút. Ví dụ, phái Mặc Môn Đức (Germany’s Mormons) và Cơ-đốc Phục Lâm (Seventh-Day Adventists) cúi về sau để thích ứng với Quốc Xã [35].

Niềm an ủi của đạo Cơ-đốc với chế độ đang trỗi dậy

Cả tín đồ Công giáo lẫn Tin Lành ban đầu đều tuân thủ mệnh lệnh mới tại Đức. Nước Đức đang lấy lại uy tín quốc tế, nền kinh tế tăng trưởng dựa vào sự hỗ trợ ngày càng lớn từ nước ngoài [36]. Các nhà tư bản như Henry Ford đầu tư mạnh vào Đế chế mới. Giáo dân Đức cũng trông đợi Nazi sẽ phục hưng giá trị “Cơ-đốc” để giúp họ đối phó với sự trỗi dậy của chủ nghĩa vô thần. Hầu hết đều hân hoan khi Nazi loại bỏ xung đột thường xuyên bằng việc khủng bố, bỏ tù hay thủ tiêu làm suy yếu phe cánh tả. Những người cánh tả bị những người theo chủ nghĩa truyền thống (chiếm ⅘ dân số) khinh thường. Tỷ lệ người vô thần bị thanh trừng lớn hơn nhiều so với những người Cơ-đốc truyền thống. Trên mặt báo, Nazi tự hào công bố các trại tập trung mới. Các bài báo “tẩy sạch” bản chất thật sự của các trại tập trung, nhưng không ai không biết rằng đó chỉ là một phần của cảnh sát quốc gia mới vốn không bị các tín đồ Cơ-đốc phản đối. Tỉ lệ rất cao các cuộc tử hình “hợp pháp” trên các mặt báo cũng bị công chúng “lơ đi” hay thậm chí “tích cực” chấp nhận.

Không còn là những nạn nhân xui xẻo, một lượng lớn tín đồ Cơ-đốc Đức đã tham gia, nhiệt thành ủng hộ, hợp tác hay thậm chí dung túng ít nhiều cho chế độ chuyên chế mới.

Hitler: Bạo chúa nổi danh

Các biện lý cho hành động của Cơ-đốc giáo suốt thời kỳ Nazi mường tượng ra rằng chế độ đã đàn áp tàn nhẫn những người bất đồng quan điểm, cho dẫu họ là ai, hay có bao nhiêu người, thì cũng đều phải bị giết để đạt được mục tiêu cuối cùng. Chế độ của Hitler được mô tả giống như chế độ của Stalin ở khoản phản ứng với việc bất đồng quan điểm. Góc nhìn đơn giản này chỉ ra một thất bại trong việc tìm hiểu bản chất phức tạp của nhà nước khủng bố. Từ khóa phổ biến: Hitler là lãnh đạo nổi danh nhất ở châu Âu, và mục tiêu của ông là sự ủng hộ phổ quát của người Aryan. Đảng theo dấu ý kiến quần chúng một cách ám ảnh, một điều chẳng bao giờ thấy được ở Liên Xô [37]. Trước chiến tranh, du lịch ngoại quốc được khuyến khích. Hitler biết rằng hầu hết người Đức sẽ nói tốt về Đế chế với du khách, trái hẳn với Liên Xô, nơi giới lãnh đạo thận trọng lo ngại sự tiếp xúc giữa người nước ngoài với một công dân chưa chắc đã trung thành. Hầu hết thời kỳ Đế chế, bất cứ hành động vô cớ nào muốn giải phóng nước Đức đều sẽ vấp phải sự phản đối quyết liệt. 

Mặc dù có nhiều mưu đồ ám sát, giới lãnh đạo Nazi lại gặp rất ít nguy cơ từ dân thường Đức [38]. An ninh cá nhân của Hitler lỏng lẻo đáng kinh ngạc; Goering thường xuyên lái xe mui trần dạo khắp Berlin.

Nếu các biện lý nói đúng, chúng ta nên mong đợi Gestapo là một tổ chức khổng lồ, không ngừng kiếm tìm và nghiền nát dòng người bất đồng đang nhiều lên. Phân tích báo cáo hiện còn của Gestapo cho thấy sự thật rằng quy mô của nó lại quá nhỏ [39]. Giáo dân Cơ-đốc Đức lại rất hài lòng khi có rất ít sự phản kháng để họ đàn áp. Hầu hết trường hợp Gestapo xử lý bắt nguồn từ dân thường đang tìm cách giải quyết tranh chấp vụn vặt và không hề mang nội dung ý thức hệ nào.

Quốc trưởng đã thành công khi mua chuộc được người Aryan bằng sự thịnh vượng đồng đẳng giả tạo, đánh cắp của cải của người Do Thái, và từ chối đưa nước Đức vào một cuộc chiến tổng thể cho đến khi buộc phải làm thế. Suốt những năm đầu cuộc chiến, dân thường ở Anh bị kiểm soát gắt gao hơn nhiều so với ở Đức. Vì hầu như toàn bộ dân Aryan đều theo Tin Lành hay Công giáo, Hitler đã để cả hai để cho hai tông phái này tương đối thoải mái. Sau tất cả, trọng tâm chính của Quốc Xã là tạo ra một chủng tộc Aryan Volk (Aryan Đức) đầy thánh lực, cả Tin Lành lẫn Công giáo, thăng hoa để biến người Đức thành một bộ máy thống trị các dân tộc thấp kém hơn. Trái với các biện lý Công giáo, Hitler, trên danh nghĩa theo Công giáo, hoàn toàn không hề muốn tàn sát hàng loạt chính dân tộc Aryan của mình, những người ông muốn nâng lên thành quyền lực tối thượng. Bỏ qua một bên sự thật rằng làm như vậy sẽ dẫn đến việc tự sát vì ý thức hệ hay chủng tộc, báo cáo làm sáng tỏ ý định của Hitler là cải tổ và chuẩn hóa niềm tin chính trị, xã hội, và niềm tin tôn giáo tối thượng của người Aryan, không có ý thanh trừng hay thảm sát người Aryan. Làm như vậy là đã vi phạm trắng trợn học thuyết Nazi, hủy hoại huyền thoại về khối Aryan đoàn kết, làm suy yếu nhà nước và nguy cơ chiến tranh tôn giáo trong nhân dân. Sự bất trung của một phần ba giáo dân Công giáo sẽ là thảm họa với một quốc gia nhỏ bé đang cố gắng vươn mình chuẩn bị cho một cuộc đại chiến. Sự thật này, không phải Concordat, sẽ là rào cản chính cho hành động của Nazi. Cũng bởi điều đó, biện lý cho rằng hàng nghìn hay hàng triệu người Công giáo và Tin Lành gia nhập đoàn người Do Thái nếu họ phản đối chính sách của Nazi là sai. Bằng chứng được tìm thấy trong các dữ liệu lịch sử.

Rosenstrasse (Hoa hồng đường phố): Sức mạnh của sự kháng cự

Khác với quyền lực tuyệt đối trên sân nhà, Hitler thường ngắt quãng, chỉnh sửa hay che giấu ý tưởng gây hại cho việc chấp nhận giá trị quý giá của dân chúng với chế độ của ông. Sự phản đối mạnh mẽ của số đông có thể và đã làm thay đổi cách hành xử của Nazi. Gặp rắc rối khi các nhà thờ Tin Lành từ chối hợp nhất, Hitler hoãn lại ý định cải tổ Công giáo Đức thành một địa đàng trong mơ. Những nỗ lực sau đó nhằm ngăn cản hoạt động nhà thờ của chính quyền Nazi thường bị các cuộc biểu tình quy mô lớn chống lại [40]. Khi các phần tử Đảng tước bỏ các trường dòng mà chưa có sự đồng ý của Hitler, nó vấp phải sự phản kháng dữ dội của mọi người, các bà mẹ của học sinh nhanh chóng yêu cầu chuyển trường [41]. Khi Hitler tố cáo sự chống đối của các mục sư Tin Lành như Hans Meiser và Theophil Wurm và ra lệnh phế truất họ, công chúng lại bắt đầu sục sôi. Một cuộc biểu tình thu hút khoảng 7000 người. Hitler lại quay sang tán dương Meiser và Wurm đầy nhiệt thành. Sự phản đối mạnh mẽ với việc giết hàng loạt người thiểu năng năm 1941 đã khiến nó ngày càng bám rễ sâu hơn, cứu sống nhiều sinh mạng, dầu cho chương trình này cũng được Quốc trưởng chấp nhận.

Việc này không đồng nghĩa với việc người phản đối không gặp nguy hiểm. Những người phản đối thường bị công kích, đôi khi là sát hại. Nhưng đám đầu sỏ Nazi biết giới hạn quyền lực của mình ở đâu. Khi các quan chức buộc phải loại bỏ linh mục Công giáo Clemens Galen tại Muenster, Goebbels cảnh báo rằng “dân chúng Muenster có thể xem đó là tổn thương chiến tranh nếu bất kỳ thứ gì chống lại linh mục … [thật ra] là với cả [nhà nước] Westphalia” [42]. Dù Galen bị công kích, ông vẫn giữ thế chủ động suốt cuộc chiến trên cương vị của mình.

Ở một loạt các quốc gia bị chiếm đóng từ Na Uy đến Ý, cư dân đều thành công khi chống lại chính sách phân biệt chủng tộc của Nazi và cứu sống hàng trăm ngàn người Do Thái. Ở Đan Mạch, các lãnh đạo chính trị và tôn giáo phản đối mãnh liệt chính sách của Nazi, cả đất nước đều chịu sự giám sát của Gestapo để cứu hầu hết người Do Thái tại Đan Mạch Cả lãnh đạo lẫn người dân đều không đối mặt với sự trả thù gay gắt nào. Các linh mục Pháp phản đối hành động của Nazi chống lại người Do Thái cũng sống sót sau chiến tranh.

Điều đặc biệt và đáng kể nhất là sự cố Rosenstrasse [43]. Khoảng 30 ngàn người Do Thái sống công khai ở Đức như những cặp vợ chồng Cơ-đốc. Có đến 9/10 cuộc hôn nhân như vậy vẫn còn nguyên vẹn bất chấp những cuộc quấy rối không ngừng. Định hướng trước các giá trị vốn có của gia đình, Nazi không thể quyết định cách giải quyết những người Do Thái này mà không xâm phạm tính thiêng liêng của hôn nhân. Đầu năm 1943, Goebbels, sau đó phụ trách Berlin, quyết định đã đến lúc thanh tẩy thủ đô bằng việc tập trung những người Do Thái cuối cùng này. Hitler đồng ý. Khoảng 2000 người Do Thái đến từ nhiều cuộc hôn nhân bị bắt giữ và đưa đến một tòa thương mại ở Rosenstrasse, từ đó họ sẽ bị đưa đến ác trại tập trung.

Khoảng một tuần các bà vợ Do Thái như chết cóng giữa mùa đông, họ ca “Trả lại chồng cho chúng tôi!”. Dân chúng Đức thỉnh thoảng cũng góp mặt. Tất cả nói rằng các đoàn biểu tình có khoảng 6000 người. Họ vẫn tiếp tục đối đầu với nguy cơ từ S.S. và Gestapo, thậm chí là nguy cơ xả súng. Họ vẫn tiếp tục dù những kẻ đánh bom người Anh vẫn tấn công thành phố hàng đêm. Nhưng Nazi lại không dám nổ súng vào những người phụ nữ Aryan không được tổ chức và không có năng lực chống trả. Cư dân Berlin thấy tận mắt đoàn biểu tình. Giới ngoại giao nước ngoài nhanh chóng lan truyền tin tức trên các mặt báo. Đài BBC sau đó phát lại câu chuyện này trên đất Đức.

Vậy kết cục của cuộc biểu tình rộng khắp duy nhất chống Nazi Đức để cứu người Do Thái là gì? Hai ngàn ông chồng Do Thái được Hitler đồng ý phóng thích. Hai mươi tư người được trả tự do sau khi bị đưa đến Auschwitz. Các cặp đôi Do Thái – Cơ-đốc tiếp tục sinh sống bình thường và vượt qua cuộc chiến. Họ cùng với rất nhiều khác sẽ là những người Do Thái Đức còn sống sót.

Goebbels sau đó lên tiếng với một cộng sự rằng chế độ đã nhượng bộ “để loại bỏ những kẻ chống đối trên thế giới, cho nên những kẻ khác không dám làm điều tương tự”. Buồn thay, chiến lược này lại thành công: suốt phần còn lại của cuộc chiến, không hành động tương tự nào xuất hiện để bảo vệ người Do Thái nói chung.

Điều này cũng không làm giảm đi số lượng những cuộc chống đối. Khi Goebbels phát động quần chúng tuyển dụng các bà vợ cho ngành công nghiệp chiến tranh thì cũng vào năm 1943, rất nhiều người đã từ chối. Tương tự, rất ít người trả thù, phần nào bởi sự quan tâm của chế độ đối với vai trò truyền thống của phụ nữ. Nhìn rộng hơn, những người Đức từ chối tham gia vào những việc ô uế đó – thậm chí nếu họ là binh lính, đảng viên hay người của S.S. – hầu hết họ đều không bao giờ bị trả thù. Ai cũng biết rằng sau cuộc chiến, những kẻ bị cáo buộc cho là tội ác chiến tranh của Nazi bị cấm tuyên bố sợ bị trả thù như một biện pháp phòng vệ.

Những động cơ này chỉ ra rằng chế độ Nazi căn bản rất hèn nhát, họ vui khi bắt nạt cả yếu và vô tổ chức, mong manh trước các cuộc biểu tình công cộng. Khi đến với Nhân dân (Volk), giới lãnh đạo Nazi muốn tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và cả gây áp lực xã hội như khủng bố. Họ biết rằng khủng bố đặc biệt hiệu quả khi mục tiêu được số đông ủng hộ và số ít phản đối. Chỉ đến khi cuộc chiến sắp vãn hồi, việc khủng bố ở Đức mới lan rộng và thường không mấy hiệu quả.

Rõ ràng là bình dân có thể chống đối và thay đổi chính sách nhà nước được, thậm chí hơn thế nữa nếu được các cơ quan phi chính phủ đầy quyền lực ủng hộ [44]. Như bình luận của Sarah Gordon, “việc nhà thờ Đức im tiếng không chống lại áp bức chủng tộc thật đáng phỉ báng…bởi Nazi sợ lời tuyên truyền hay quyền lực chính trị của nhà thờ, nên gần như chắc chắn rằng những người đứng đầu nhà thờ có thể lên tiếng quyết liệt hơn chống sự áp bức chủng tộc” [45].

Các biện lý tuyên bố rằng việc các giáo dân Cơ-đốc Đức truyền thống cũng bất lực trước nạn khủng bố của Nazi là một sự phóng đại được Goebbels đề cao. Như các bà vợ ở Berlin khám phá được, tín đồ Cơ-đốc có sức mạnh bảo vệ tính mạng lẫn hạnh phúc của người khác và cả sức mạnh làm xáo trộn Hitler và đám tay sai. Nếu họ muốn, họ chỉ cần làm như vậy.

Gregory Paul là một nhà nghiên cứu độc lập hứng khởi với việc công bố những khía cạnh ít người biết nhưng quan trọng về những mối liên hệ phức tạp giữa tôn giáo, thế tục, văn hóa, kinh tế, chính trị và điều kiện xã hội. Ông xuất hiện trên các công trình học thuật về Tâm lý học tiến hóa, Tạp chí Đạo đức Y khoa, Triết học và Thần học. Các bài luận nổi danh trên Los Angeles Times, Wall Strêt Journal, Washington Post/On Faith, Edge và một trong những xã luận được đọc nhiều nhất của Washington Post (5/29 và 30/11). Các nghiên cứu của Paul xuất hiện nhiều trên Newsweek, USA Today, The Guardian, London Times, LA Times, MSNBC, FoxNews.

Lê Minh Tân dịch

Nguồn: Thư viện Đại học Georgetown, Hoa Kỳ

Đọc bài gốc tại link này.

1. Chủ nghĩa Nazi và chủ nghĩa phát xít được xem là thế tục, vô thần, hoặc cả hai, theo David Barrett, George Kurian, and Todd Johnson, eds., World Christian Encyclopedia: A Comparative Study of Churches and Religions in the Modern World (Oxford: Oxford University Press, 2001).

2. Các nghiên cứu hát giống bởi các nhà khoa học chủ lưu, ôn hòa như Robert Gellately, Backing Hitler: Consent and Coercion in Nazi Germany (Oxford: Oxford University Press, 2001); Ian Kershaw, Hitler: 1889–1936: Hubris (New York: W W Norton, 1998) and Hitler: 1936–1945: Nemesis (London: Allen Lane, 2000); Klaus Scholder, The Churches and the Third Reich vols. 1 and 2 (Philadelphia: Fortress Press, 1979 [English version, 1988]); Nathan Stoltzfus, Resistance of the Heart: The Rosenstrasse Protest and Intermarriage in Nazi Germany (New York: W.W. Norton, 1997); Beth Griech-Polelle, Bishop von Galen: German Catholicism and National Socialism (New Haven: Yale University Press, 2002); and Sarah Gordon, Hitler, Germans, and the “Jewish Question” (Princeton: Princeton University Press, 1984). Also see John Patrick Michael Murphy, “Hitler Was Not an Atheist,” Free Inquiry 19, no. 2 (Spring 1999).

3. Xem thêm James Carroll, Constantine’s Sword: The Church and the Jews (New York: Houghton Mifflin, 2001) and David Kertzer, The Pope Against the Jews: The Vatican’s Role in the Rise of Modern Anti-Semitism (New York: Alfred A. Knopf, 2001).

4. http://www.us-israel.org/jsource/Judaism/jewpop.html.

5. Xét đến bối cảnh hơn 1500 năm người Cơ-đốc chống Do Thái, tầm vóc của Holocaust có thể ít nhiều phản ánh quy mô dân số rộng lớn và trình độ công nghệ khá tiên tiến thời bấy giờ như việc làm độc ác những người Nazi bài Do Thái. Các nhóm Cơ-đốc khác có thể làm như vậy sớm hơn, nếu như có công nghệ và đủ hồ tắm cho các nạn nhân.

6. Ngày nay những người Islam bài Do Thái cho in lại các tác phẩm của Luther.

7. Trước Đệ nhất Thế chiến, nhiều người Đức theo tôn giáo nhìn nhận sự hi sinh cho Tổ quốc cũng giống như việc tử vị Chúa; miễn cưỡng tử trận được xem là sự xúc phạm.

8. Sau Vatican I, các giáo sĩ Công giáo được yêu cầu tuyên thệ chống lại tính hiện đại.

9. Cơ-đốc giáo Aryan vẫn tiếp tục tồn tại, đơn cử là nước Mỹ ngày nay có cả Bản sắc Cơ-đốc, Quốc gia Aryan, và các nhánh dân tộc cực đoan khác.

10. Trong học thuyết Cơ-đốc Aryan, Đức Chua không bài Do Thái vì ngài không có một người cha Do Thái. Cuộc mưu hại trong Đền thờ là bằng chứng cho sự bài Do Thái của người. Sự quy kết sai lầm của Cơ-đốc giáo với Do Thái giáo được đổ lên đầu Thánh Paul.

11. Vì vậy những thuật ngữ Cơ-đốc cực đoan lại làm khuấy đục con người. Việc người Do Thái thiếu linh hồn giải thích thích cho việc họ bị xem là thiếu sự quan tâm đến tính tâm linh và thế giới bên kia mà chỉ quan tâm đến thành tựu vật chất.

12. Chẳng hạn, người theo khuynh hướng Dân tộc Công giáo, Dietrich Eckart, sau này là bạn và chỉ dân cho Hitler, viết năm 1917 rằng “để là một người Aryan và cảm tưởng siêu việt là một và là một điều giống nhau”, nhưng lại mô tả Nietzsche như một tên cuồng vọng điên rồ về nền tảng tâm linh của chúng ta”.

13. Gregory Paul, “The Secular Revolution of the West: It’s Passed America By—So Far,” Free Inquiry 22, no. 3 (Summer 2002).

14. Ibid.

15. Xem Scholder vol. 1., p.12.

16. Richard Steigmann-Gall, The Holy Reich: Nazi Conceptions of Christianity 1919–1945 (Cambridge, U.K.: Cambridge University Press, 2003) là công trình đầu tiên làm rõ niềm tin tôn giáo của Nazi.

17. Những người bảo vệ Cơ-đốc thường dẫn Table Talk, trong đó có nhắc đến một số tuyên bố chống Cơ-đốc kịch liệt nhất của Hitler. Nhưng các sử gia chính thống thấy rằng Table Talk không đáng tin cây. Nó hàm chứa các cuộc nói chuyện cá nhân được ghi lại vào năm 1940 bởi hai thư ký, một người sau đó nói rằng “không đáng tin” nên đã được đặt trong phần cuối vì người biên soạn – Bormann, thậm chí theo chuẩn Nzi là một kẻ lừa đảo đầy cơ hội và chống Cơ-đốc còn hơn cả Hitler – đã hủy đi bản gốc. Tương tự, thậm chí có được nhắc đến trong Table Talk, Hitler thường công kích Judeo-Christianity (Cơ-đốc hữu Do Thái), chứ không phải Cơ-đốc. Hitler ca tụng Chúa như một người Aryan cao quý.

18. Timothy Ryback, “Hitler’s Forgotten Library” (Thư viện bị lãng quên của Hitler) Atlantic Monthly 29, no. 4 (May 2003), bày tỏ sự ngạc nhiên về sự ham đọc sách tôn giáo của Hitler. Lạ thay, trong kết luận của Ryback, việc Hitler tự xem mình là Chúa lại trái ngược với lời dẫn của chính Ryback để bảo vệ cho giả thuyết của ông.

19. Chế độ đã đưa bản gốc của hai tác phẩm On the Jews (Về Do Thái) và Their Lies (Lời nói dối của họ) trưng bày trước công chúng và kỷ niệm 450 năm ngày sinh của Luther năm 1933 ở quy mô rất lớn.

20. Xem Steigman-Gall.

21. Tân Pagan giáo thịnh hành hơn nhiều trong nội bộ S.S. hơn là trong xã hội Đức nói chung, thậm chí theo các số liệu của Đảng, pagan giáo chưa bao giờ chiếm được hơn 5% dân số.

22. Xem Steigman-Gall.

23. Khác với nhiều người vẫn nghĩ, Nazi chưa bao giờ vận hành một thiết bị tình-dục-sinh-sản nào cả. Mặt khác, “văn hóa” Nazi không lại rất thận trọng; phim ảnh trong gia đình suốt thời kỳ này toàn chiếu các thiếu nữ ngực trần nằm trên bãi biển, và sự khỏa thân đầy hào nhoáng lại rất phổ biến trong nền nghệ thuật Nazi.

24. Scholder vol. 1, p. 130.

25. Xem Scholder vols. 1 and 2, Kershaw pp. 488-90 and 324, and Gellately p. 14, Sự ủng hộ của Hitler là cuộc khảo cứu lịch sử phần nào dựa trên các tài liệu tồn lưu của Gestapo. Tôn giáo không phải là trọng tâm sơ yếu của nghiên cứu, nhưng những gì Gellately viết trong chủ đề này thật đáng xấu hổ. Xem thêm Gordon, người đưa ra một điểm cân bằng cho sự hợp tác lẫn chống đối của nhà thờ.

26. Xem Scholder vol. 1, pp. 37-51 and 74-87.

27. Ibid., p. 253.

28. Ronald Rychlak, “Goldhagen v. Pius XII,” First Things, June/July 2002, pp. 37–54, đề ra một ví dụ rắc rối điển hình cho sự xoay vòng ủng hộ Vatican khi ông cho rằng Concorda “là một dự luật của Nazi. Nazi đã chấp nhận điều khoản mà Giáo hội đã đề xuất với Weimar từ trước, nhưng đã bị Weimar từ chối”.

29. See Scholder vol. 1, p. 241.

30. Ibid., pp. 241-43.

31. Một hiệp ước đã đạt được với Bavaria trao cho Giáo hội quyền kiểm soát trường học.

32. Scholder vol. 1, p. 386.

33. Ibid., p. 405.

34. Gellately, p. 14.

35. Xem Christine Elizabeth King, The Nazi State and the New Religions (New York: Edwin Mellen Press, 1982).

36. Hitler và đám công sự không có ý kiến nào về các điều hành nền kinh tế hiện đại. “Phép màu” kinh tế Nazi là một kế hoạch “Làng Potemkin” được thực hiện, trước khi thôn tính các nước khác bằng việc bán bớt phần dự trữ vàng của Đức và cắt giảm những khoản nợ quốc tế không bao giờ có thể được hoàn trả.

37. Xem Gellately.

38. Hitler thoát chết trong gang tấc trong vụ ám sát bằng bom chỉ vài tháng sau khi xâm lược Ba Lan. Giáo hoàng Pius XII gửi đến Quốc trưởng “thư chúc mừng đặc biệt của cá nhân mình”.

39. Xem Gellately, p. 39.

40. Xem Griech-Polelle, pp. 36-37.

41. Nền chính trị Nazi cũng kì quái như thuyết thần học của họ. Hitler tránh dính líu vào các vấn đề hời hợt để bảo vệ danh tiếng và giúp cho mình có nhiều lựa chọn hơn. Điều này, đi kèm với quan điểm quyền lực chỉ-thứ-phù-hợp-tồn-tại khắc nghiệt của Hitler, đã thúc đẩy các cuộc chiến thường xuyên, dai dẳng trong nội bộ, tạo nên sự bất ổn của chế độ. Trong “phụng sự vì Quốc trưởng”, các quan chức của đảng thường vượt quá mong đợi của Hitler, chí ít thì cũng trong thời gian ngắn; mảnh vỡ thánh giá Bavaria là một ví dụ cho khuynh hướng này.

42. Dẫn trong in Gellately, Kershaw, p. 429, and Gordon.

43.Xem Stoltzfus, pp. 209-57.

44. Hitler làm khá hơn trong các công việc quốc tế, thậm chí khi ông cai quản cả châu Âu, quyền lực của ông cũng có giới hạn. Franco, người được cho là đồng mình của ông, lịch sự nói phật ý Quốc trưởng hãy từ bỏ ý định thúc ép Tây Ban Nha tham chiến chống lại đồng minh. Hitler thấy rằng tự thân ông buộc phải đàm phán với chính quyền Vichy ở Pháp vốn được ông giúp đỡ giải quyết vấn đề tương tự, và điều đó cũng chẳng có tác dụng gì.

45. Gordon, p. 261.

Share:

Add comment: