Những quyền lực ngầm chi phối chính trị Mỹ từ đầu thế kỷ 20 đến nay

Những quyền lực ngầm chi phối chính trị Mỹ từ đầu thế kỷ 20 đến nay

Đây là ghi chép ngắn từ “Nước Mỹ chuyện chưa kể” của Oliver Stone & Peter Kuznick

Chúng ta thường hình dung về nước Mỹ như một quốc gia lý tưởng mà ở đóng chính quyền phải tôn trọng các quyền tự do dân sự. Không ít người quan tâm tới tình hình thế giới đều đặt kỳ vọng rằng tổng thống Mỹ, chính quyền Mỹ sẽ mang lại tự do, dân chủ không phải chỉ cho người dân Mỹ mà còn cho cả thế giới. Niềm tin này chắc chắn sẽ bị thách thức khi họ đọc cuốn sử về nước Mỹ trong suốt thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 có tên “Nước Mỹ chuyện chưa kể” (Tên tiếng Anh: “The Untold History of United State”) của Oliver Stone và Peter Kuznick.

Hai tác giả của “Nước Mỹ chuyện chưa kể” bằng những chứng cứ được thu thập từ báo chí, văn bản hành chính, hồ sơ được giải mật… đã phơi bày những quyền lực ngầm đã chi phối nền chính trị Mỹ mà trong đó đa số các tổng thống Mỹ chỉ là quân cờ cho các thế lực này. Quyền lực ngầm này có thể là vô hình, có thể là đang hiện diện,… tất cả đều luôn tìm cách để bóp nghẹt các quyền tự do dân sự của người dân Mỹ và chắc chắn sẽ không mang lại quyền tự do dân sự cho người dân của các quốc gia khác. Đọc từng trang sách, tôi có thể khẳng định một điều rằng: người dân Mỹ muốn có được các quyền tự do của mình, họ buộc phải tự nhận thức, tự đòi hỏi, tự đấu tranh một cách ôn hòa để giành lấy. Quyền tự do không bao giờ là thứ mà các chính quyền tự “ban” cho người dân, kể cả khi chính quyền ấy luôn tuyên ngôn về tự do.

Nỗi ám ảnh về một nước Mỹ xuất chúng

Năm 1941, tài phiệt tạp chí Henry Luce đã tuyên bố rằng thế kỷ 20 là “thế kỷ Hoa Kỳ”. Qủa vậy, trong suốt thế kỷ 20, nước Mỹ đã vươn lên trở thành quốc gia số 1 thế giới về mọi mặt, và đến năm 1977, xu hướng ủng hộ một nước Mỹ bá quyền với quyền lực rộng khắp thế giới đã trở nên phổ biến. Đó là một nước Mỹ “đã tham chiến ở ba nước Hồi giáo và tiến hành các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, hay còn được gọi mĩ miều là ám sát có mục tiêu, tại ít nhất sáu quốc gia khác”; “có căn cứ quân sự ở tất cả các khu vực trên địa cầu này, mà đếm sơ qua tổng số cũng đã hơn một nghìn”; “chi phí quân sự của Mỹ lại nhiều bằng tất cả các quốc gia khác trên thế giới cộng lại”; “sở hữu hàng ngàn vũ khí hạt nhân, rất nhiều trong số đó được đặt trong tình trạng sẵn sàng tuyệt đối dù không có quốc gia nào gây ra mối đe dọa cận kề”; “khoảng cách giàu nghèo tại Mỹ lớn hơn bất kì quốc gia nào trên thế giới”;  “một nhóm ít ỏi vài người – dù con số hiện nay là  300, 500 hay 2000 – lại kiểm soát của cải nhiều hơn 3 tỉ người nghèo nhất thế giới”; “một nhóm nhỏ vài người Mỹ giàu có lại có ảnh hưởng lớn đến thế đối với chính sách quốc nội, chính sách đối ngoại và truyền thông.” Nhưng đó cũng là một nước Mỹ “chưa hề có một chương trình chăm sóc sức khỏe toàn dân”; “phần lớn người dân đều thấy quyền lực thực sự và chất lượng cuộc sống của họ đi xuống”; người dân “chấp nhận, ở nhiều mức độ, sự giám sát, sự can thiệp của chính phủ, những quyền tự do của công dân bị lạm dụng, sự riêng tư bị xâm phạm”; “tỉ lệ người lao động tham gia công đoàn thấp nhất trong các nước dân chủ và công nghiệp phát triển”… Tất cả những vấn đề này, theo các tác giả của “Nước Mỹ chuyện chưa kể” “sẽ khiến các Tổ phụ Lập quốc và các thế hệ ông cha phải kinh hãi”. (trang 17-18)

Nếu như thời lập quốc, lý tưởng về sự tự do và bình đẳng được khẳng định trong Hiến pháp Mỹ, thì ở thời kỳ phát triển mạnh mẽ, chính quyền Mỹ lại tôn sùng sự xuất chúng và để đạt được sự xuất chúng, họ sẵn sàng đạp bỏ lý tưởng về tự do và bình đẳng. Họ cười nhạo “bản thiết kế về một thế giới trù phú dựa trên khoa học và công nghệ, một thế giới nghiêm cấm thực dân và bóc lột kinh tế, một thế giới hòa bình và thịnh vượng được chia sẻ” do Cựu Phó Tổng thống Henry A. Wallace đề xướng là “mộng mơ” và “thiếu thực tế”. (trang 17).

“Chủ nghĩa nước Mỹ xuất chúng” (American exceptionalism) là các dùng từ mang tính chỉ trích của Joseph Stalin dành cho chủ thuyết cho rằng nước Mỹ luôn vượt trội hơn so với các quốc gia khác. Lấy cảm hứng từ cuộc Cách mạng Hoa Kỳ, nhà khoa học chính trị Seymour Martin Lipsen đã gọi Mỹ là “quốc gia mới đầu tiên”; tiếp sau đó, sử gia người Pháp Alexis de Tocqueville đã mô tả nước Mỹ như một đất nước “đặc biệt”. Mặc dù “Chủ nghĩa nước Mỹ xuất chúng” là cách gọi mà “kẻ thù” của nước Mỹ đặt ra, nhưng nó vẫn phản ánh đúng thực trạng lịch sử về đức tin về một nước Mỹ vĩ đại hơn tất thảy các quốc gia khác trên thế giới.

Hai tác giả của “Nước Mỹ chuyện chưa kể mở đầu cho những hình dung về một “nước Mỹ xuất chúng” bằng tuyên bố của tổng thống nổi tiếng Woodrow Wilson sau hòa ước Versailles: “Cuối cùng thế giới cũng biết được rằng nước Mỹ chính là cứu tinh của thế giới này”. Một thực tế được phơi bày: 58% người dân Mỹ đều tin rằng “Chúa trao cho nước Mỹ một vai trò đặc biệt trong lịch sử nhân loại”. Đây chính là trọng điểm mà Đảng Cộng Hòa luôn sử dụng để thuyết phục những cử tri của mình (trang 20-21). Không hề lạ khi tổng thống Barack Obama bị nhiều người coi là phản bội lại nước Mỹ khi ông từ chối lan truyền tư tưởng nước Mỹ là món quà của Chúa dành cho thế giới, và cũng không lạ khi Tổng thống Donald Trump sử dụng câu slogan “Make America great again!” cho chiến dịch vận động bầu cử của mình vào năm 2016.

Đọc thử: Nước Mỹ chuyện chưa kể - BOOKHUNTER - Đọc để nhận thức một thế  giới đa chiều
Oliver Stone và Peter Kuznick – Tác giả qua hơn 1000 trang sử “Nước Mỹ chuyện chưa kể” đã từng bước chỉ rõ những quyền lực ngầm chi phối chính trị Mỹ từ đầu thế kỷ 20 đến nay.

Động lực về một nước Mỹ xuất chúng, một nước Mỹ vĩ đại đã luôn thôi thúc nước Mỹ phát triển thành một mô mình “đế quốc kiểu mới”, chưa từng có trong lịch sử. Mặc dù không chiếm lĩnh đất đai và kiểm soát dân số ở các quốc gia khác, nhưng nước Mỹ đã thúc đẩy sự kiểm soát kinh tế trên khắp thế giới và củng cố bằng quyền lực quân sự với vũ khí và trang thiết bị tối tân. Chúng ta sẽ quay lại vấn đề này ở phần sau về Quyền lực của tổ hợp công nghiệp quân sự.

Ngay từ cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa nước Mỹ xuất chúng đã nuôi mầm cho tính thượng đẳng của quân đội Mỹ. Trong cuộc “giải phóng” Phillipine khỏi sự xâm chiếm của thực dân Tây Ban Nha, những người lính Mỹ đã tàn sát những người Phillipine “mọi rợ” mà họ giải phóng. Thậm chí, họ không giấu được cơn hưng phấn trong những bức thư gửi về cho người thân: “Chúng con hăng máu kinh khủng và ai cũng muốn giết mấy đứa đen thui đó… Kiểu săn người này hay hơn săn thỏ rất nhiều”. Lý giải cho cuộc giết chóc này, Thượng nghị sĩ Albert Beveridge không ngần ngại tuyên bố rằng Phillipine mãi mãi thuộc về nước Mỹ, Thái Bình Dương thuộc về nước Mỹ và “cường quốc nào kiểm soát được Thái Bình Dương sẽ kiểm soát được thế giới”, Chúa đã chọn nước Mỹ để “cai trị thế giới”. (trang 31) Và rồi, sau khi giết chết 20.000 quân du kích, hơn 200.000 dân thường, chính quyền Mỹ thời bấy giờ vẫn tự tin rằng họ đã đem nền văn minh đến với những người lạc hậu.  Bắt đầu từ đây, nước Mỹ bước vào con đường của chủ nghĩa đế quốc. Từ năm 1900 đến 1925, một loạt các quốc gia xung quanh Thái Bình Dương bao gồm Cuba, Panama, Haiti, Nicaragua, Cộng hòa Dominican, Mexico, Guatemala, Honduras… liên tục bị can thiệp bởi quân đội và các tập đoàn của Mỹ. (trang 35,36)

Nhưng một sự thật hiển nhiên ít người chấp nhận đó là thế lực được lợi lớn trong ước ao “vĩ đại” và “xuất chúng” này của nước Mỹ lại không phải chính quyền Mỹ hay người dân Mỹ, mà là các nhà tài phiệt. Tập đoàn United Fruit Company là tập đoàn đầu tiên hưởng lợi từ những cuộc chiến “giải phóng” các quốc gia bị coi là lạc hậu và mông muội tại Mỹ Latin. Ngay sau khi Mỹ xóa tan ảo tưởng độc lập của người Cuba thì các tập đoàn United Fruit Company đã thu mua 1,9 triêu arce đất trồng mía với giá 20 cent/arce; và tính đến năm 1901 thì tập đoàn Bethlehem Steel đã chiếm 80% các mỏ khoáng tại Cuba. Những tập đoàn này chỉ chấp nhận những nhà cầm quyền địa phương ngoan ngoãn có lợi cho chính sách kinh tế của họ. (trang 34) Trong suốt quá trình can thiệp vào các nước Mỹ Latin, những tập đoàn này liên tục mở rộng khối tài sản khổng lồ của mình, tới mức hai tác giả của “Nước Mỹ chuyện chưa kể” phải thốt lên: “chiến tranh vẫn là “một chiếc vợt” hữu ích khi các binh đoàn và các chiến dịch tình báo vẫn được triển khai rộng rãi trên khắp thế giới để bảo vệ các lợi ích kinh tế và địa chính trị của giới tư bản Mỹ”. (trang 38) Và chính tổng thống Woodrow Wilson – người đã tuyên bố hùng hồn cho sứ mệnh cứu thế của nước Mỹ, cũng khẳng định một cách mạnh mẽ không giấu diếm rằng: “Không có gì khiến tôi quan tâm hơn việc phát triển trọn vẹn nhất thương mại Mỹ và quyền chinh phục chính đáng của Mỹ ở thị trường nước ngoài”. (trang 42) Một loạt các thủ pháp can thiệp đã được chính quyền Wilson thực hiện tại Mexico, bao gồm: phản đối chính quyền sở tại, lấy cớ chọn người tài nhúng tay vào bầu cử, “kèm cặp” chính quyền mới được dựng lên, đưa quân đội áp sát lãnh thổ để đe dọa, tăng đầu tư tài chính của các tập đoàn Mỹ tại quốc gia này để tiếp tục khai thác… (trang 43). Một loạt các hoạt động song hành giữa quân đội và các tập đoàn Mỹ là minh chứng hiện hữu trong thế kỷ 20 cho kết luận nổi tiếng của nhà văn chống lại thể chế toàn trị George Orwell: “Chiến tranh với nước ngoài chỉ diễn ra khi tầng lớp giàu có nghĩ rằng họ sẽ thu lợi từ nó”.

Trong suốt Thế chiến I, Mỹ tuyên bố “trung lập” và sự trung lập này đã mang lại nguồn lợi khổng lồ cho nước Mỹ thông qua buôn bán vũ khí cho cả hai phe thuộc Thế chiến I. Không chỉ vậy, Mỹ còn thực hiện một cuộc “buôn người thắng trận” bằng cách ở những thời điểm quan trọng, Mỹ đã cho phe Hiệp Ước vay số tiền 2,5 tỉ USD trong khi chỉ cho phe Liên Minh Trung Tâm số tiền 27 triệu USD. Đế chế tài chính của gia tộc Morgan đã “can dự sâu vào cuộc chiến bằng cách trở thành đại diện mua hàng duy nhất của chính phủ Anh từ 1915 đến 1917” và đã cung cấp tới 84% đạn dược của phe Hiệp Ước (trang 46). Kết thúc chiến tranh, nước Đức cũng phải trả một cái giá không hề nhỏ để đổi lấy hòa bình, và đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến Thế chiến II. Một lần nữa, đế chế tài chính Morgan lại can thiệp vào Hội nghị Hòa bình Paris năm 1919 bằng cách ủng hộ Đức phải bồi thường 40 tỷ USD và đại diện tài chính của Wilson tại Hội nghị là  Thomas Lamont đã đảm bảo rằng quyền lợi của tập đoàn Morgan được đảm bảo. (trang 77).

Những năm 20s của thế kỷ XX, nước Mỹ đã thay thế vị trí của Anh – Pháp trên chính trường thế giới, các tập đoàn Mỹ vươn tay thao túng khắp thế giới, đặc biệt là các tập đoàn dầu mỏ. Khi “trung lập” và đứng ngoài quan sát cuộc chiến giữa Anh và Đức trong Thế chiến I, Mỹ đã nhận ra dầu mỏ là quyền lực kiểm soát thế giới khi thấy hai quốc gia này liên tục sử dụng chiến thuật cắt đứt nguồn cung dầu mỏ của nhau. Từ đó, Mỹ nhanh chóng cung cấp nguồn hàng dầu mỏ trong chiến tranh, chiếm tới 80% nhu cầu xăng dầu của phe Hiệp Ước trong thời chiến. Trước đó, công ty dầu Royal Dutch Shell của Anh đã chọn cách đầu tư chủ chốt tại Venezuela để khai thác dầu thay vì Mexico, và dung dưỡng nhà độc tài Juan Vincente Gómez biến đất nước này thành đồn điền riêng cho mình. Để soán ngôi Royal Dutch Shell, Standard Oil tại bang Indiana đã mua hai tập đoàn dầu của Mỹ tại Venezuela. (trang 79)

Chủ nghĩa nước Mỹ xuất chúng đã đi đến chiều hướng cực đoan khi tiệm cận với chủ nghĩa Phát Xít ở cuối thập niên  30s khi hiện thực hóa thuyết ưu sinh bằng các hoạt động triệt sản để thay đổi cơ cấu gen của dân Mỹ. Hai ông trùm Rockefeller và Carnegie đã cấp vốn nghiên cứu chương trình triệt sản để chọn lọc gen. Hitler đã ca ngợi sự đi đầu của nước Mỹ trong lĩnh vực ưu sinh như sau: “Tôi đã học hỏi một cách hào hứng các đạo luật của nhiều bang của Mỹ về việc ngăn chặn sự sinh nở của những người mà con cháu của họ chắc chắn không có giá trị hoặc sẽ gây hại tới chủng tộc.” (trang 126)

Tinh thần nước Mỹ xuất chúng, vượt trội với lý tưởng cứu thế trong suốt những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, một cách khôn khéo đã đưa nước Mỹ leo lên vị trí thống trị thế giới, và các tập đoàn Mỹ thì thao túng nền kinh tế toàn cầu với sự bành trướng không ngừng của các khối tài sản. Tinh thần này đến nay vẫn tiếp tục đang là ngọn cờ lý tưởng của chính phủ Mỹ mỗi khi can thiệp chính trị vào các quốc gia khác. Tinh thần ấy đã làm bùng dậy ngọn lửa giân dữ của thứ chủ nghĩa yêu nước cực đoan và chủ nghĩa khủng bố tại các nước không chấp nhân quyền lực tuyệt đối tại Mỹ. Tinh thần này cũng là thứ khiến nước Mỹ không thể chấp nhận được sự trỗi dậy của Trung Quốc và Nga trong thế kỷ 21, vốn đã thách thức vị trí số 1 của nước Mỹ, phá vỡ trật tự của một thế giới đơn cực mà Mỹ đã tạo ra trong suốt thế kỷ 20.

Quyền lực của tổ hợp công nghiệp quân sự đã chi phối chính trị Mỹ đầu thế kỷ 20 đến nay như thế nào?

Ngay từ khi ở vị trí trung lập trong Thế chiến I, nước Mỹ đã chọn đứng ngoài và buôn vũ khí cho cả hai phe. Nhưng hơn cả thế, Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu vũ khí riêng, đặc biệt đầu tư vào vũ khí hóa học. Năm 1918, Mỹ khởi động chương trình nghiên cứu chiến tranh hóa học và tập trung tại cơ sở Lực lượng Chiến tranh Hóa học (CWS). “Nước Mỹ chuyện chưa kể” cho biết “phần lớn các nhà hóa học hàng đầu đất nước rời khỏi khuôn viên trường học để thực hiện nghiên cứu. Dự án tuyển tới hơn 1700 nhà hóa học, làm việc trong hơn sáu mươi tòa nhà, rất nhiều trong số đó mới được xây dựng. Đến khi chiến tranh kết thúc, 5400 nhà hóa học đã từng tòng quân trong cuộc chiến được biết tới với cái tên Chiến Tranh Hóa Học” (trang 61). CWS đã sản xuất ra 200.000 quả bom và đầu đan hóa học mỗi ngày và Mỹ đã chuẩn bị sử dụng máy bay để thả một tấn khí độc xuống Đức vào cuối Thế chiến I nhưng đã gặp phải sự phản đối của Anh và Pháp (trang 63). Ưu tiên tốc độ hơn an toàn, chương trình nghiên cứu này đã mang tới nhiều cái chết bất thường. Một loạt các mô tả về nạn nhân của thí nghiệm vũ khí hóa học đã xuất hiện trên báo chí:

“Kết quả là nhiều cái chết đã được ghi nhận, theo kĩ sư điện George Temple, người đã là lãnh đạo bộ phận bảo trì động cơ tại “Đại học Trại American.” Nhiều năm sau, trong cuộc phỏng vấn với tờ báo sinh viên của Đại học American – tờ Eagle, Temple đã thuật lại nhiều vụ tai nạn. Trong một vụ, “ba người bị thiêu đốt bởi một loại khí độc. Xác của họ được chở đi trên xe đẩy, thịt ‘lúc lắc rời khỏi xương.’  Mỗi buổi sáng, khi điểm danh, nhân viên được yêu cầu xung phong làm vật thí nghiệm loại khí độc mới. Temple đã xung phong bảy lần. Trong các phòng thí nghiệm, hiện tượng rò rỉ thường xảy ra. Chim hoàng yến hay được nuôi gần đó. Cái chết của chim hoàng yến báo hiệu rằng đã đến lúc sơ tán tòa nhà. Temple mô tả cách các nhà nghiên cứu về nhà sau ngày làm việc tại phòng thí nghiệm: “Vào cuối ngày, những nhân viên của trại với các bộ quần áo ám đầy khí độc sẽ cùng lên xe điện công cộng. Khi các xe điện này xuống phố, dân thường bắt đầu lên xe. Họ đều nhanh chóng hắt xì hoặc chảy nước mắt, tùy vào loại khí độc mà các binh lính đang tìm hiểu.” Sống gần các khuôn viên trường cũng không an toàn, theo cựu Thượng nghị sĩ Nathan Scott phát hiện. Scott cùng vợ và chị bị “đầu độc” bởi một “đám mây” thoát ra từ một phòng thí nghiệm Scott và chị của mình phải điều trị ở Trạm Thí nghiệm và sau đó là bệnh viện địa phương.” (trang 62)

Mô hình này đã trở thành tiền thân cho Tổ hợp công nghiệp quân sự được lập ra dưới thời của tổng thống Franklin Roosevelt. Franklin Roosevelt nhậm chức tổng thống trong bối cảnh nước Mỹ bị khủng hoảng bởi sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán và người dân hoàn toàn mất đi niềm tin vào ngân hàng. F.Roosevelt đã nỗ lực vực dậy nền kinh tế bằng Đạo luật Phục hồi Công nghiệp Quốc gia (National Industrial Recovery Act – NIRA) và sự hỗ trợ của Ban Công nghiệp quân sự (trang 92). Cùng lúc ấy, ông phải đối mặt với xu hướng phát xít và xu hướng Cộng Sản đang ngày càng gia tăng trên thế giới, và ngay tại Mỹ những tinh thần này cũng trở nên truyền cảm hứng. Franklin Roosevelt đã đưa ra thông điệp thách thức giới kinh doanh để đoàn kết tầng lớp lao động nghèo khổ có thể gây ra hỗn loạn bất cứ lúc nào:

“Chúng ta cần phải đấu tranh với những kẻ thù lâu đời của hòa bình – giới độc quyền kinh doanh và tài chính, sự đầu cơ, tầng lớp nhà băng liều lĩnh, chủ nghĩa địa phương, kiếm lợi từ chiến tranh. Họ đã bắt đầu coi Chính phủ Mỹ chỉ là phần phụ thuộc vào hoạt động của họ. Giờ chúng ta đã biết Chính phủ dựa vào tiền của tổ chức cũng nguy hiểm như Chính phủ dựa vào đám đông có tổ chức… Họ giống với nhau ở việc họ căm ghét tôi – và tôi chào đón sự căm ghét của họ.” (trang 105)

Hậu quả là, nền kinh tế Mỹ thậm chí còn suy sụp kinh khủng trong năm 1937 và toàn bộ đề xuất về chương trình nâng cao chất lượng y tế và chăm sóc sức khỏe toàn dân do Roosevelt đề xướng cũng bị hủy bỏ. (trang 106). Sự cực đoan và hiếu chiến của phát xít Đức dù gây lo ngại cho chính quyền của Roosevelt và nhiều người dân Mỹ, nhưng chính các tập đoàn lớn vốn coi trọng lợi nhuân hơn hòa bình đã đứng ra để bảo đảm cho tinh thần hữu nghị của Hitler, trong đó có Morgan, General Motors, Standard Oil, Du Pont, Ford… Các tập đoàn này vẫn thu lợi lớn từ các công ty con tại Đức và thống trị nhiều ngành kinh tế tại Đức. Họ từ chối rút vốn khỏi Đức và thậm chí còn ngấm ngầm nghe theo chính phủ Đức tái cơ cấu để phục vụ chiến tranh. General Motors và Ford thậm chí còn hỗ trợ cho quân đội Đức trong phát triển các loại động cơ, máy bay phản lực, ô tô… (trang 123-124 – 125) Henry Ford, ông trùm của tập đoàn Ford còn góp phần nuôi dưỡng tâm lý hận thù của quân đội Đức bằng việc viết và tài trợ tiền xuất bản cuốn sách bài Do Thái mà tầng lớp lãnh đạo của phát xít Đức tôn sùng. Bức ảnh Henry Ford được treo trong phòng làm việc của Hitler và Hitler tuyên bố:

“Tôi ước có thể gửi một số bộ đội xung kích tới Chicago và các thành phố lớn khác của Mỹ để giúp trong các cuộc bầu cử. Chúng tôi đặt kỳ vọng vào Heinrich Ford như nhà lãnh đạo của Đảng Phát xít đang phát triển ở Mỹ.” Vào năm 1931, ông nói với người đọc của tờ Detroit News: “Tôi coi Henry Ford như nguồn cảm hứng của mình.” (trang 126)

Để rồi, phe phát xít đã liên tục lấn tới, thúc đẩy rộng khắp cuộc xâm lược thế giới. Và ngay cả khi phát xít Đức và Ý đã khởi động chiến tranh ở châu Âu thì các ông trùm tài phiệt Mỹ vẫn tiếp tục đổ các nguồn vốn vào Đức, cho đến khi Mỹ bị Nhật ném bom tại Trân Châu Cảng.https://thebookhunter.org/portfolio-item/nuoc-my-chuyen-chua-ke/embed/#?secret=bvobUrOjzf

Franklin Roosevelt đã phá vỡ rất nhiều tiền lệ để đối phó với chủ nghĩa phát xít bao gồm: ứng cử nhiệm kỳ thứ 3, lựa chọn đặt lòng tin vào Henry A. Wallace – một người có xuất thân từ gia đình truyền thống theo Đảng Cộng Hòa, bắt tay với Liên Xô thông qua đàm phán cùng Joseph Stalin, nhưng quan trọng hơn hết đó là thúc đẩy Tổ hợp công nghiệp quân sự (Military–industrial complex). Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã thành lập Ban sản xuất thời chiến để điều phối các ngành công nghiệp dân sự và chuyển chúng sang sản xuất thời chiến.

Tổ hợp công nghiệp quân sự (MIC) là một liên minh không chính thức giữa quân đội và thế lực tài phiệt để tạo nên một ngành công nghiệp quốc phòng đồng thời có ảnh hưởng đến các chính sách công, bao gồm các hoạt động đóng góp chính trị, chấp thuận cho chi tiêu quân sự, vận động hành lang để hỗ trợ bộ máy hành chính, giám sát ngành công nghiệp quốc phòng. Liên minh bao gồm sự tham gia của các nhân tố như nhà thầu quốc phòng, nhà thầu quân sự tư nhân, Lầu Năm Góc, Quốc hội và các cơ quan hành pháp. Tổ hợp này đã sản xuất ra số lượng máy bay hơn 100.000 chiếc mỗi năm và gần một trăm tàu sân bay tại Thái Bình Dương trong những năm 1940s để phục vụ chiến dịch Thái Bình Dương (trang 177); đồng thời đầu tư nguồn lực khổng lồ để chạy đua sản xuất bom nguyên tử (trang 182) để rồi dẫn đến cuộc ném bom kinh hoàng lên Hiroshima và Nagasaki do tổng thống Truman ký sắc lệnh. Trong suốt Thế chiến II, sản lượng vũ khí ở Hoa Kỳ đã tăng từ khoảng một phần trăm GDP hàng năm lên 40 phần trăm GDP với khoản lợi nhuân siêu khổng lồ.

Khái niệm “Tổ hợp công nghiệp quân sự” chính thức được đề cập đến trong phát ngôn của tổng thống  Dwight D. Eisenhower. Bắt đầu nhiệm kỳ vào năm 1953, Eisenhower đủ hiểu về bom hạt nhân để chán ghét thứ vũ khí này, đến mức liên tục nhắc nhở nội các rằng không nên nghĩ bom hạt nhân là “một biện pháp rẻ tiền có thể giải quyết mọi thứ” (trang 307). Để rồi, cũng chính Eisenhower, trong Diễn văn từ biệt tổ quốc của mình vào năm 1961 đã chỉ ra rằng:

“Sự liên kết giữa một tổ chức quân đội khổng lồ với một ngành công nghiệp vũ khí lớn như thế này là một trải nghiệm mới đối với Mỹ. Sự ảnh hưởng toàn thể—về kinh tế, chính trị, và cả tâm linh—có thể thấy ở mọi thành phố, mọi tòa nhà bang, mọi văn phòng của Chính phủ Liên bang… chúng ta phải hiểu được những ảnh hưởng nghiêm trọng của nó. Công sức, tài nguyên, kế sinh nhai của chúng ta đều liên quan đến nó; và ngay cả cơ cấu xã hội của chúng ta cũng vậy. Trong các ủy ban của chính quyền, chúng ta cần phải cảnh giác với sự xuất hiện của các ảnh hưởng không chính đáng, dù cố tình hay không, của tổ hợp công nghiệp-quân sự… Chúng ta không được phép để sức mạnh của mối liên kết này gây nguy hại cho quyền tự do và các quá trình dân chủ của chúng ta… Chỉ có một đội ngũ công dân cảnh giác và có hiểu biết mới biết cách đan xen bộ máy phòng thủ công nghiệp và quân sự khổng lồ này với các phương pháp và mục tiêu hòa bình của chúng ta, để cho an ninh và tự do cùng song song phát triển.” (trang 346)

Eisenhower's Warning on Military-Industrial Complex More Apt than Ever |  Change-Links
Cảnh báo của Tổng thống Eiseinhower về Tổ hợp công nghiệp quân sự, một trong các quyền lực ngầm chi phối chính trị Mỹ.

Trong biên bản họp về ý tưởng của bài diễn văn, Ralph Williams – một trong cách thành viên của đội ngũ viết diễn văn đã viết một cách thẳng thắn:

“…lần đầu tiên trong lịch sử của mình, Mỹ đã có một nền công nghiệp dựa hẳn vào chiến tranh… Không chỉ vậy, các tướng lĩnh và đô đốc nghỉ hưu sớm còn nắm giữ các vị trí trong /một/ tổ hợp công nghiệp dựa vào chiến tranh, từ đó định hướng cho các quyết định và sự phát triển mạnh mẽ của tổ hợp này. Việc này tạo ra mối nguy là những điều mà Cộng sản luôn nói về chúng ta có thể sẽ thành hiện thực. Chúng ta cần thận trọng để đảm bảo rằng “những thương nhân buôn bán cái chết” sẽ không nắm vị trí hoạch định chính sách quốc gia.” (trang 345)

Trên trang New York Times, một bài phân tích về Tổ hợp công nghiệp quân sự đã chỉ ra rằng chi phí phòng thủ của Mỹ chiếm 59% ngân quỹ và Lầu năm Góc thì kiểm soát gần 32 tỷ USD tiền bất động sản ở thời điểm bấy giờ. Và cho đến nhiệm kỳ tổng thống của Donald Trump, tổ hợp công nghiệp quân sự vẫn là một quyền lực ngầm chi phối nhiều hoạt động của chính phủ. Trong nhiệm kỳ của mình, kế hoạch vũ trụ và không gian mạng đã trở thành lĩnh vực mới trong đối đầu quân sự. Tháng 6 năm 2018, ông ta kêu gọi Bộ Quốc Phòng và Lầu Năm Góc tạo ra một “Lực lượng Vũ trụ” và tuyên bố rằng “chúng ta phải thống trị không gian bên ngoài trái đất”… vì ông không muốn thấy Trung Quốc và các nước khác đi trước nước Mỹ (lại một lối tư duy bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa nước Mỹ xuất chúng). Kế hoạch của Trump đã bị tiết lộ sẽ bao gồm các “chùm tia laser, chùm hạt và súng giảm tốc, tất cả sẽ phải liên quan đến năng lượng hạt nhân” và “nếu có một cuộc chiến của hỏa lực, thì đó sẽ là Chernobyl và Fukushima trên bầu trời.” Dự án này của Trump đã “nuôi dưỡng sự háu ăn của tổ hợp công nghiệp quân sự”. Để tăng ngân sách quân sự từ 3-5% so với lạm phát, chính quyền Trump đã cắt giảm các dịch vụ xã hội bao gồm An sinh xã hội và Trợ cấp y tế – những dịch vụ dân sinh đáng lẽ đã có thể giúp nước Mỹ vượt qua đại dịch Covid-19 vừa qua. (trang 810,811,812).

Truyền thông đại chúng dần trở thành quyền lực ngầm chi phối chính trị Mỹ từ Thế chiến I

Để đảm bảo cho chủ nghĩa nước Mỹ xuất chúng luôn ngự trị trong lòng người dân, và hợp lý hóa tất cả các cuộc chiến mà nước Mỹ thực hiện ở các quốc gia khác, cũng như duy trì vòng tiêu dùng bất tận phục vụ các tập đoàn, truyền thông đại chúng đã nhanh chóng trở thành thứ vũ khí hủy diệt nước Mỹ không kém bom nguyên tử.

Amazon.com: Wee Blue Coo War WWI USA Uncle Sam Want You Army Iconic  Unframed Wall Art Print Poster Home Decor Premium: Posters & Prints
Uncle Sam và lời kêu gọi tham chiến – Tờ rơi tuyên truyền nổi tiếng trong lịch sử chính trị Mỹ từ đầu thế kỷ 20 đến nay

Ngay từ cuối Thế chiến I, cặp đôi Wilson và Teddy Roosevelt đã phải thực hiện một chiến lược tuyên truyền rộng khắp đất nước để thuyết phục những người phản đối nước Mỹ tham chiến ở Châu Âu. Một cơ quan tuyên truyền chính thức được thành lập có tên là Uỷ ban Thông tin Công cộng (CPI) đã tuyển 75.000 tình nguyện viên được biết với cái tên “những người bốn phút” để cổ vũ tinh thần yêu nước và tố cáo tội ác của nước Đức tại các địa điểm công cộng như trung tâm thương mại, nhà thờ, rạp chiếu phim. Các nhà báo được khuyến khích tuyên truyền về sự tham chiến của Mỹ tại châu Âu như một “cuộc thánh chiến cho dân chủ” và coi dân chủ như một dạng “tôn giáo thế tục chỉ có thể tồn tại trong một hệ thống tư bản”. Creel, chủ tịch của CPI đã phát biểu: “Dân chủ là một tôn giáo với tôi, và suốt cuộc đời làm việc tôi đã rao giảng rằng nước Mỹ là hi vọng của thế giới.” (trang 48-49)

Hoạt động tuyên truyền rộng khắp này đã lôi kéo ngay cả các nhà sử học vốn cần công tâm và khách quan. Một bộ phận hợp tác giáo dục và dân sự trong CPI đã được thành lập dưới sự lãnh đạo của nhà sử học Guy Stanton Ford đến từ đại học Minnesota. Nhiều nhà sử học nổi tiếng lúc bấy giờ cũng hợp tác của Ford để đề cao mục đích của Mỹ và bôi nhọ kẻ địch, tức nước Đức, chỉ trích nước Đức rằng “trước mắt họ là thần chiến tranh, một người mà họ đã dâng hiến cả lý trí và tính người, còn sau lưng họ là hình ảnh biến dạng họ đã tạo ra về người Đức, những người có khuôn mặt vấy máu và dòm ngó qua những đổ nát của văn minh nhân loại.” Tương tự như vậy, Lenin và Trotsky của nhà nước Liên Xô cũng bị các ấn bản tuyên truyền của CPI buộc tội là các “đặc vụ được thuê bởi chính quyền đế quốc Đức để phản bội người Nga.” (trang 49-50)

Các trường đại học của Mỹ dưới một xã hội tuyên truyền trở thành một nơi không khoan dung, kiểm duyệt tư tưởng như  những gì được mô tả trong tiểu thuyết “1984” của George Orwell. Đại học Columbia đã sa thải hai giảng viên quan trọng vì công khai phản chiến, nhà tâm lý học hàng đầu của Mỹ Giáo sư James McKeen Cattell, học giả Henry Wadsworth Longfellow Dana trong Khoa tiếng Anh và văn học so sánh, cháu nội của nhà thơ Longfellow đã bị kết tội vì “ảnh hưởng nghiêm trọng tới trường bằng việc công khai kích động chống lại cuộc chiến”. Tờ New York Times đã thể hiện sự hoan nghênh hành động của trường Columbia và mỉa mai các học giả này bằng cụm từ “ảo tưởng về tự do học thuật” và buộc tội họ “phát ngôn, viết, tuyên truyền, … xúi giục học sinh phản quốc, tiêm nhiễm hoặc muốn tiêm nhiễm giới trẻ những tư tưởng độc hại.” (trang 52) Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ, tệ hại hơn, còn biến khuôn viên đại học thành doanh trại huấn luyện quân đội. Trong năm 1918, 140.000 sinh viên đã bị kết nạp vào quân đội trong Quân đoàn Sinh viên Tập huấn  (SATC) với cấp bậc binh nhì và nhân lương binh nhì. Mỗi sinh viên phải diễn tập quân sự trong mười một giờ, bên cạnh bốn mươi hai giờ học các môn có định hướng phục vụ quân sự. (trang 53). Tính chất toàn trị tăng cao khi Robert La Follette – thượng nghị sĩ bỏ phiếu phản đối tham chiến bị các chính trị gia yêu cầu đuổi khỏi Thượng viện. 90% các giảng viên của đại học Wincousin đã ký vào kiến nghị lên án quan điểm phản chiến của ông. (trang 54)

Nếu chúng ta từng thấy bức xúc về sự cấm đoán các sách và ấn bản tuyên truyền về tự do- dân chủ của các nước tư bản lưu hành tại Liên Xô, Trung Quốc hay Việt Nam; thì chúng ta hãi nhìn lại chế độ kiểm duyệt của nước Mỹ đầu thế kỷ 20: Đối với phe Liên Xô, “các ấn bản Xã hội chủ nghĩa bị cấm khỏi hệ thống thư tín. Côn đồ yêu nước và chính quyền địa phương đột nhập vào các tổ chức xã hội chủ nghĩa và phòng nghiệp đoàn. Các ban tổ chức lao động và nhà hoạt động phản chiến bị đánh và đôi khi bị giết.” Đối với phe Đức, “mọi thứ liên quan đến Đức đều bị phỉ báng trong một làn sóng tẩy chay được ngụy trang bằng lòng yêu nước. Các trường học giờ thường yêu cầu giáo viên thề trung thành và cấm dạy tiếng Đức. Iowa còn cẩn thận hơn khi dựa vào “Tuyên bố Babel” năm 1918 để cấm việc giao tiếp bằng tiếng nước ngoài ở nơi công cộng và qua điện thoại. Nebraska cũng làm theo. Thư viện trên toàn quốc loại bỏ sách Đức, và các dàn nhạc loại bỏ các tác phẩm Đức ra khỏi danh sách tiết mục. Cũng giống như việc món khoai tây chiên (French fries) về sau sẽ bị đổi tên thành “freedom fries” bởi một Quốc hội thiếu hiểu biết và tức giận với việc Pháp phản đối cuộc xâm lược Iraq vào 2003, cơ quan đó vào Thế chiến I cũng đã đổi tên món hamburger thành “Sandwich liberty”, món Sauerkrauta thành “Cải bắp liberty,” bệnh sởi Đức thành “bệnh sởi liberty,” và chó chăn cừu Đức thành “chó cảnh sát.” Những người Mỹ gốc Đức phải chịu phân biệt đối xử trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Trong bối cảnh áp lực của tinh thần “100% chủ nghĩa Mỹ” lan rộng, không có gì ngạc nhiên khi những người bất đồng ý kiến không chỉ bị tẩy chay mà đôi khi còn bị giết bởi đám đông yêu nước. Tờ Washington Post trấn an người đọc rằng những vụ giết người này là cái giá nhỏ phải trả để có thể phát triển lòng yêu nước mạnh mẽ.” (trang 55-56)

Song song với tuyên truyền, những chiến dịch quảng cáo trên truyền thông đại chúng cũng trở thành “nghệ thuật của chủ nghĩa tư bản”. Thập niên 1920s được coi là kỷ nguyên vàng của quảng cáo. Nếu trước năm 1910s, các nhà tư bản còn cho rằng người dân có thể bị thuyết phục bởi lý lẽ và có tư duy lý trí; thì từ những năm 1910s đến 1930s, phần lớn các nhà quảng cáo đã coi người tiêu dùng là phi lý trí. Hệ thống quảng cáo tước bỏ những phương thức giải thích về cơ chế của sản phẩm và dịch vụ mà chuyển sang thu hút qua cảm xúc và trí tưởng tượng, bởi vì các nhà tài phiệt đều thống nhất rằng việc “thu hút đám đông bằng lý lẽ và trí thông minh là vô ích”. John Benson, giám đốc của American Association of Advertising Agencies (Hiệp hội các Cơ quan Quảng cáo Mỹ) quan sát vào năm 1927: “Việc nói ra sự thật trần trụi là không hấp dẫn. Đôi khi cần phải lừa con người vì lợi ích của họ. Bác sĩ và cả nhà truyền giáo đã biết và thực hành việc này. Trí tuệ nhìn chung thấp đến bất ngờ. Nó sẽ bị dẫn dắt hiệu quả thông qua những thúc đẩy vô thức và bản năng hơn là lập luận và lý lẽ.”

Chỉ sau một thập kỷ tuyên truyền và quảng cáo, chính phủ Mỹ đã tạo ra một thế hệ những người dân với trình độ dân trí thấp. Các nhà tâm lý học đã kiểm tra trí tuệ của 1.727.000 người trong quân đội Mỹ, bao gồm 41.000 sĩ quan, kết quả là 30% số người tham gia không biết chữ; 47% người da trắng và 89% người da đen là “đần độn”. H. L. Mencken, “hiền triết của Baltimore” đã gọi những công dân dân chủ của Mỹ đang được ca ngợi như những người hùng, những công dân xuất sắc là “người tầm thường, sa lầy trong tôn giáo và các điều mê tín khác”…”là thành viên của giống loài người Mỹ đần độn”. (trang 83-84)

Những mô thức tuyên truyền và quảng cáo của nước Mỹ đã trở thành nguyên mẫu cho phát xít Đức và Liên Xô học tập. Thậm chí, đối thủ của Mỹ trong suốt thế kỷ 20 cũng không quên học tập từ Mỹ chiến thuật bóp méo và xóa bỏ lịch sử. Chính quyền Mỹ tảng lờ những cuộc thảm sát mình đã gây ra với thổ dân da đỏ, những người dân Mỹ Latin và các đảo ven Thái Bình Dương, Nhật Bản, Đức, Việt Nam, Trung Đông; chối bỏ chiến công của Liên Xô trong thế chiến II để giành vinh quang về mình; che giấu hành tung của các tập đoàn đứng đằng sau các âm mưu chiến tranh; vẽ vời huyền thoại về một nước Mỹ nhân từ… Người dân Mỹ gần như không biết gì về lịch sử của nước mình ngoài những gì được tô vẽ trên truyền thông đại chúng. Một bài kiểm tra toàn quốc gọi là Nation’s Report Card được công bố vào tháng 7 năm 2011 cho thấy “các học sinh Mỹ đều dốt lịch sử hơn bất kỳ môn học nào khác”. Chỉ 12% học sinh cuối cấp 3 đạt mức thành thạo mà sự “thành thạo” ở đây cũng buộc phải nghi ngại. (trang 19-20)

Lo ngại trước một nước Mỹ, các trí thức, các học giả, văn nghệ sĩ, các chính khách, các nhà hoạt động xã hội có lương tri vẫn không ngừng lên tiếng cảnh báo thông qua các hoạt động của mình. Nước Mỹ cho dù bị bóp méo, nhào nặn bởi bàn tay của các ông trùm tham lam và các chính trị gia hèn nhát, thì vẫn có những cuốn sử phơi bày sự thật như “Nước Mỹ chuyện chưa kể”; vẫn có các nhà văn của “thế hệ lạc lối” như của E. E. Cummings, John Dos Passos, Ernest Hemingway, Ezra Pound, Thomas Boyd, William Faulkner, Laurence Stallings, Irwin Shaw, Ford Madox Ford, Dalton Trumbo…; vẫn có những nhà báo dũng cảm nêu lên sự thật; những phong trào phản chiến, đòi quyền của người đồng tính, chống phân biệt đối xử, đòi hỏi tự do thông tin và tự do học thuật…; các nhà sáng tạo giải trí vẫn tìm cách đan cài lời nhắc nhở về bộ ba quyền lực chủ nghĩa nước Mỹ xuất chúng – tổ hợp công nghiệp quân sự – truyền thông đại chúng trong các sản phẩm của mình. Để rồi, dù chính quyền Mỹ có tồi tệ đến đâu, vẫn có những tổng thống mong muốn thực hiện những điều có ích cho người dân Mỹ, thoát khỏi sự kìm kẹp của các ông trùm tư bản, dù rằng họ thành công hay thất bại hay phải thỏa hiệp. Do đó, nước Mỹ vẫn vĩ đại, nhưng sự vĩ đại ấy không bao giờ thuộc về chính quyền và các tập đoàn của Mỹ.

Hà Thủy Nguyên

Bài đã đăng trên Book Hunter

Các bạn có thể đọc thêm bài phê bình bộ phim và tập sách “Nước Mỹ chuyện chưa kể”:

Xem video buổi trò chuyện về cuốn sách “Nước Mỹ chuyện chưa kể”

One Comment:

  • Nước Mỹ chuyện chưa kể – Oliver Stone một lần nữa viết lại lịch sử nước Mỹ thế kỷ 20 – The BOOKHUNTER
    at 8 tháng ago

    […] Nước Mỹ chuyện chưa kể Nước Mỹ chuyện chưa kể – 2020 ← Prev Next → […]

    Reply

Add comment: