rumi nhà thơ bán chạy

Rumi trở thành một trong những nhà thơ bán chạy nhất của chúng ta như thế nào?

Rumi là một thầy tế được huấn luyện ở Aleppo, người có những bài thuyết giảng đánh lừa cả phe chính thống lẫn phe đối lập của thế giới Islam. Nhà lập thuyết này ví von việc viết lách hệt như nhúng tay vào lòng bò. Những người kiêng tài sản, họ trốn trong nhà vệ sinh để không phải gặp những vị khách quý. Những người Muslim hướng mặt về Mecca cầu nguyện năm lần trong ngày lại quá cần mẫn đến nỗi ông phải thốt lên “Bất cứ ai nhìn vào mặt tôi đều phải nhớ cầu nguyện đấy nhé”. Rumi, một trong những tác giả thơ bán chạy nhất tại Hoa Kỳ. Ông là nhà thơ của tình ái và mê ly, những vần thơ của ông là nguồn cảm hứng cho Deepak Chopra và Madonna, chúng cũng lược bỏ đi những giai điệu trên sàn catwalk và trong cả trong những căn phòng ướt át khi tập Jivamukti yoga. Những lời nói đó có thể tô điểm cuộc sống của bạn trên những tấm rèm phòng tắm, dưới những tấm thảm hàng hiệu hay trên cây thông noel và cả những chiếc hôn iPhone nữa. Là nguồn cảm hứng cho nhiều hội thảo tại Esalen, nơi nghỉ dưỡng của Gestalt ở California và cũng là nơi người ta ngâm mình trong bồn tắm nhìn ra Thái Bình Dương.

Rất ít nhân vật tôn giáo trong lịch sử văn minh đã thành công khi vượt qua lằn ranh của đức tin, ngôn ngữ và địa lý một cách đầy khôn ngoan như Jalal al-Din Mohammad Rumi, nhà lập thuyết và nhà huyền thơ vào thế kỷ XIII. Là con trai của một nhà thuyết giáo lập dị và đầy tham vọng, Rumi, người được biết trong thế giới Ba Tư với tên gọi Mowlana, tức “Tôn sư của chúng ta” đã đi vòng quanh vùng Trung Đông trong một ngày, sau đó tiến vào Mông Cổ và Seljuks, trước khi cuối cùng lại cư ngụ ở Konya, Anatolia.

Ở đó Rumi thừa hưởng tầm áo choàng của cha mình, chủ quản một trường dòng tồi tàn nhưng đầy mê hoặc, và trở thành một trong những nhân vật tôn giáo được yêu mến và thảo luận nhiều nhất trong vương quốc. Tiếng tăm sức cuốn hút của ông, theo thời gian và của riêng trong thời đại mình, nằm ở tầng khó nắm bắt của kiến thức tôn giáo chuyên sâu, sức hút và sự dí dỏm của cá nhân ông, và một tinh thần khoáng đạt ở cả tính nhân bản sâu sắc hiển hiện với thế giới hiện đại. Ông mang nhạc cụ đến để cầu nguyện và quay cuồng trong vũ điệu sama, tuyên ngôn rằng những thực hành này giúp cho tâm hồn con người thông đạt với năng lực linh thánh. Các hoàng tử và tướng lĩnh đổ xô đến tìm ông, chịu đựng những lời bình chua nghiệt. Những tín đồ Kito lẫn Do Thái đi theo ông trên đường. Những người ăn xin cảm thấy thoải mái khi gần gũi với ông.

Nhưng mọi thứ đã thay đổi khi “mắt diều hâu” Shamsuddin xứ Tabriz xuất hiện ở Konya. Cả hai trở nên gắn bó với nhau trong một cuộc gặp căng thẳng hàng tháng trời khiến Rumi phải thay đổi phương cách tận hiến. Những người tận hiến xung quanh ông dấy lòng ghen tị và muốn Shams xéo khỏi Konya ngay. Khi gần đến độ trung tuần, Rumi đã tìm kiếm ông ta và cuối cùng nhận ra rằng bên trong, ẩn trong những dòng tuyệt tác ấy, là “Masnavi”, những lời dạy tâm linh của ông ta. Tác phẩm đó vẫn là một trong những văn bản được đọc nhất của người Muslim và của thế giới nói tiếng Ba Tư, cả hai đều là trí tuệ và sức mạnh thi ca dòng Sufi.

Trong bản thân đạo Islam, Sufi giáo là một dòng phái tồn tại hàng thế kỷ vốn xem thực hành tôn giáo như một phương tiện đồng nhất với Chúa Trời. Những người theo Sufi đem lòng mộ đạo của mình truyền vào thi ca và âm nhạc, và đạt đến tình yêu như một phép ẩn dụ nhằm mô tả niềm khao khát của một con người cho một mối liên hệ với thần thánh. Tương tự nhiều người sùng mộ Rumi trước, Brad Gooch, người vẫn gọi Rumi là “Nhà thơ tình dòng Sufi”, ông đưa ra quá nhiều sự lãng mạn thường tình vào một mối quan hệ mà các tác phẩm của Rumi cố tình che giấu. “Dù không có dấu hiệu nào của ân ái, song Rumi lại chọn cái nói về tình cảm thiêng liêng thông qua thơ tình Ba Tư, và cả việc thêu dệt nên thông điệp từ cả hai phía”, ông viết. Tuy nhiên, ngôn ngữ ở đây nên được sử dụng như một minh chứng. Trong thời đại của Rumi, không có chỗ cho dòng thơ tình trần tục; lối ẩn dụ tình cảm của người Sufi hoàn toàn bao trọn ngôn ngữ thơ Ba Tư. Sắc thái đó có thể là đặc trưng của các văn sĩ Ba Tư, nhưng lại quá chú trọng và tình cảm trần tục, khiến cho Rumi tựa như Pablo Neruda của thế kỷ XIII.

Gooch, một nhà văn và nhà thơ, trong các tác phẩm của mình thì có cuốn “Flannery: Cuộc đời của Flannery O’Connor”, nhằm tạo ra những câu chuyện kể về cuộc đời Rumi và làm cho hành trình tâm linh của ông trở nên tường minh hơn với những độc giả đã mua phiên bản hạ cấp về Rumi được in trên tấm rèm nhà tắm. Tương tự như hầu hết tiểu sử văn chương nổi tiếng, “Bí mật của Rumi” có thể không phải là một công trình phê bình. Vì những người muốn một bức họa chính xác hơn, nên tiểu sử học của Franklin Lewis vẫn giữ vai trò quan trọng.

Nhưng cuốn sách của Gooch dù sao cũng hữu dụng. Ông can đảm dịch, và đặt Rumi trong bối cảnh không – thời gian rộng hơn thời đại mình: thời điểm biến động lớn trong thế giới Islam thời trung đại, nơi những người Sufi mở mang lãnh thổ. Con đường này không hề thiếu những cơ nguy. Gần 300 năm trước thời Rumi, một vị thánh Sufi là Mansur al-Hallaj tuyên bố rằng “Ta là chân lý”, một câu nói mà người Sufis cho đến ngày nay vẫn hiểu rằng đó là sự công nhận cho những chút thiêng liêng trong tất cả chúng ta. Hallaj bị hành quyết vì tội dị giáo ở Baghdad năm 922, thân xác ông bị phanh thành nhiều mảnh. Rumi tiếp cận một số lằn ranh dị giáo như vậy, khiến cho các sultan địa phương và các kiểu tài phán nghiêm ngặt cuối cùng cũng phải ân xá, vì ông là Mowlana vĩ đại.

Cuốn tiểu sử của Gooch làm sống lại một giai đoạn tiền trung cổ đầy biến động và mưu mô chính trị, tạo ra các nhân vật sống động như vị sultan Seljuk và khung cảnh thành thị hấp dẫn. Nhưng trong bối cảnh đa dạng ấy, ông xây dựng một Rumi giản đơn trong thời đại thế tục này. Gooch dẫn lời Coleman Barks, nhà thơ xứ Tennessee, người gần đây đã cố gắng dịch thơ Rumi từ các bản văn còn sót lại ra tiếng Anh và phổ biến chúng ở Hoa Kỳ, ông nói rằng Rumi “không có lợi lộc gì khi chia ra thành các cái tên khác nhau đối với người Kitô, người Do Thái và cả người Muslim”.

Đúng là Rumi đã thuyết giảng và sống trên tinh thần khoan dung, bởi vậy nên ông mới được ái mộ lớn. Ông xác định rằng tất cả tôn giáo đều chung một mục đích là phụng sự Chúa Trời. Nhưng sự cởi mở của ông với các tín điều khác không đồng nghĩa với việc ông tin rằng Islam có thể là hòa mình vào một món súp độc thần huyền bí nào đó. “Masnavi” của ông được gọi là “Kinh Quran trong tiếng Ba Tư” và có đầy đủ tham chiếu trong tiếng Hadith, những câu từ trong kinh Quran và cả sự tận hiến cho Muhammad. Nếu Rumi đến một nơi đầy rẫy lòng khoan dung, điều đó nằm trong truyền thống Islam, chứ không hề xa rời.

Như một phần của khuynh hướng phác họa Rumi như một con người nhân văn nguyên gốc, Gooch dẫn lời một học giả khác rằng “Rumi sở dĩ gây được tiếng vang vì ngày nay người ta đang nghĩ về hậu tôn giáo”. Dù đây không phải là luận điểm chính của Gooch, nhưng chính cách ông chọn Rumi giống hệt như một Romeo trong đội chiếc khăn xếp đã khiến cuốn sách đi theo chiều kích này.

Nhiều bản dịch đương thời về Rumi bỏ qua tham chiếu từ tiếng Ba Tư, Ả Rập và từ Kinh Quran ra khỏi câu văn, hoặc đơn giản là bỏ qua nhiều phần trong “Masnavi” nói về thần học Islam hà khắc của ông. Bằng việc loại bỏ Rumi ra khỏi tính Islam, điều được nền văn hóa ngày nay yêu cầu, chúng ta đã bỏ qua vai trò quan trọng của ông trong lịch sử Islam, Như cố học giả Shahab Ahmed viết trong cuốn sách “Islam là gì? Tầm quan trọng khi trở thành người Islam”, “hiện tượng lịch sử và con người đó chính là Islam” suốt nhiều thế kỷ đã dung chứa nhiều mâu thuẫn và nghịch lý. Không phải lúc nào tính chính thống nghiêm ngặt cũng được xem là biểu hiện chân thực của tôn giáo. Rumi là một trong những người đầu tiên mang trong mình cái mà Ahmed gọi là “quyền khai phá”.

Trong sự bất khoan dung văn hóa ngày nay, hẳn sẽ có những cuốn sách giá trị cao bồi đắp cho quan điểm đầy thù hận đầy châm biếm của đạo Islam. “Bí mật của Rumi” có thể là một chỉ dẫn của Hành tinh cô đơn (Lonely Planet) đến với đạo Sufi, nhưng đó là một lời chỉ dẫn đầy nhạy cảm và đam mê. Mỗi thời đại sẽ tạo ra một Rumi cho riêng mình. Nhưng sau chốt, chỉ bằng cách thừa nhận đức tin riêng của ông, chúng ta mới có thể quý trọng ý nghĩa sâu sắc về sự khoan dung trong thế giới Islam với những bất đồng của ông, để có thể trân trọng và kiềm chế nó, cho những thúc đẩy kéo dài giữa hai dòng chính thống và cách tân trong chính bản thân Islam giáo.

Azadeh Moaveni là tác giả của “Thỏi son Jihad” và nhiều sách khác. Bà đang tiến hành viết một cuốn sách về phụ nữ và Nhà nước Islam.

Nguồn: How Did Rumi Become One of Our Best-Selling Poets? – The New York Times (nytimes.com)

Dịch: Lê Minh Tân

Add comment: