Rumi: số 1 ở Afghanistan và Mỹ

Rumi: số 1 ở Afghanistan và Mỹ

Dịch giả Coleman Barks thảo luận về nhà thơ đắt khách nhất, và được cả người Mỹ lẫn Afghanistan yêu thích.

Tác giả: Amy Standen, Đăng ngày 12 tháng 10 năm 2001 ngay sau khi Mỹ phát động chiến tranh tại Afghanistan ngày 7 tháng 10 năm 2001 sau sự kiện sụp Tòa tháp Đôi ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Coleman Barks, nhà thơ thế kỷ 21, đã chỉ ra rằng Jelaluddin Rumi, nhà thơ thế kỷ 13, là nhà thơ đắt khách nhất ở Hoa Kỳ, đồng thời là nhà thơ nổi tiếng tại Afghanistan, các bài thơ của ông thường xuyên được phát trên các đài phát thanh tại đất nước này. Với tình hình hiện tại, không ai có thể xác nhận được điều này. Nhưng công bằng mà nói, có một mối liên hệ giữa hai quốc gia đang diễn ra chiến tranh căng thẳng này là một nhà thơ sinh ra trong một thời đại mà cả hai quốc gia đều chưa tồn tại.

Sẽ thật thất vọng nếu không đề cập đến câu chuyện về việc làm thế nào mà Barks trở thành dịch giả nổi tiếng nhất đất nước về các tác phẩm của Rumi. Truyền thuyết Rumi được gắn với những câu chuyện đánh dấu sự khởi đầu và kết thúc và những khám phá. Không có gì từ từ xảy ra với các nhà thần bí. Các sự kiện cuộc đời là tự phát và tổng thể. Cái nhìn sâu sắc lóe lên; Teresa de Avila rơi vào trạng thái xuất thần, một vụ va chạm, một vụ nổ và mọi thứ trở nên hoàn toàn khác.

Câu chuyện về cách Barks, nhà thơ sinh ra ở miền Nam và là giáo sư tiếng Anh của Đại học Georgia, trở thành một học giả Rumi bắt đầu vào năm 1977. Vào đêm ngày 2 tháng 5, Barks mơ thấy mình đang nằm trong một chiếc túi ngủ bên bờ sông Tennessee, gần nơi ông lớn lên. Đột nhiên, một tia sáng lóe lên bầu trời và, như Barks mô tả trong phần giới thiệu cuốn sách mới của mình, “The Soul of Rumi”: “Một quả cầu ánh sáng bốc lên từ đảo Williams và tới chỗ tôi – lộ ra hình một người đàn ông đang ngồi bắt chéo chân, cúi đầu và nhắm mắt, một chiếc khăn choàng trắng sau đầu. Người đó ngẩng đầu lên, mở mắt, và nói: “Tôi yêu bạn”. “Tôi cũng yêu bạn,” tôi đáp lại.

Một năm sau, Barks tìm thấy hình bóng tương tự giữa đời thường: đó là một vị thánh Sufi người Sri Lanka tên là Bawa Muhaiyaddeen, người này sẽ hướng dẫn Barks theo đuổi các bản dịch (vì Barks không hiểu được tiếng Farsi, phương ngữ Ba Tư mà Rumi đã viết ban đầu).

Nếu bạn không có khuynh hướng tin vào những câu chuyện về những giấc mơ tiên tri và các sự kiện siêu nhiên khác, thì bạn cũng có thể không phải là một người hâm mộ Rumi. Những câu chuyện về điều huyền bí và phép màu không phải là tất cả các tác phẩm của Rumi, nhưng chúng là một phần của nó. Dù tốt hay xấu, chúng đã giúp củng cố mối liên hệ vững chắc của ngài với phong trào New Age. Nhưng tạm gác qua lý trí, hoặc ít nhất là có khả năng đón nhận tính biểu tượng của một câu chuyện khó tin, mang lại sức sống cho những bài thơ của Rumi.

Thể loại sự kiện thay đổi cuộc sống đặc biệt này có một cấu trúc quen thuộc; hồ sơ về thân thế của Rumi được tạo thành từ các lăng kính tương tự nhau: nhân vật chính, người cố vấn và một tuyên bố khó hiểu chia cuộc đời thành trước và sau.

Rumi sinh năm 1207 tại Balkh, một thành phố thuộc Afghanistan ngày nay, thuộc dòng dõi các nhà thần học và nhà thơ Islam lâu đời. Khi còn nhỏ, gia đình ngài chuyển từ Afghanistan đến Konya, Thổ Nhĩ Kỳ, có lẽ là để thoát khỏi sự tấn công của đội quân xâm lược của Thành Cát Tư Hãn. Rumi đã trở thành một học giả, một nhà thơ và một người thầy như cha mình.

Một ngày tháng 10 năm 1244, Rumi đang ngồi bên đài phun nước, đọc các tác phẩm của cha mình, thì ngài được một nhà thần bí Islam tên là Shams xứ Tabriz đến thăm (Barks gọi vị này là “linh hồn cực lạc”). Shams đến gần Rumi, giật lấy bản thảo từ tay Rumi và ném xuống nước. Khi Rumi phản đối, Shams đã hỏi những câu hỏi nghe có vẻ giống như câu hỏi tu từ: “Rumi thích sống với Thượng Đế hơn, hay là tiếp tục đọc về Ngài?” Những tờ giấy ướt đẫm, Shams tuyên bố một cách huyền bí, “chúng sẽ lại khô khan như chúng đã từng mà thôi.” Và ông đã đúng.

Nếu cuộc sống, không phải giấy, là con đường dẫn đến thần thánh, thì các bản dịch của Barks có thể gần với tham vọng của Rumi hơn là bản dịch của các học giả tiếng Farsi, phương ngữ Ba Tư mà Rumi đã viết ban đầu. Barks không quan tâm lắm tới các bản gốc tiếng Farsi: ông bắt đầu bằng cách so sánh các bản dịch tiếng Anh hiện có, sau đó diễn đạt lại thành bản dịch của mình. Thường thì điều này có nghĩa là từ bỏ vần điệu và nhịp độ của tiếng Farsi ban đầu của Rumi, nhưng nó cho phép Barks mang lại cho bài thơ một sự vui nhộn và hiện đại. Những trò đùa của Rumi trở nên hài hước hơn dưới ngòi bút của Barks. Chúng ta vì thế mà luôn nói rằng: “Nốt cao hay nốt thấp thì chẳng có tác dụng gì với một người điếc cũng như rượu vang đỏ dù ngon tới mấy cũng vô dụng đối với những đứa bé sơ sinh.” Đó là phong cách mà Barks ám chỉ khi ông chỉ trích một dịch giả Rumi nói tiếng Farsi đương thời: “sử dụng rất nhiều những từ ‘không thể hiểu nổi’.”

Barks, 64 tuổi, là một người cao to với quầng thâm dưới mắt. Trông ông hơi buồn tẻ và để râu quai nón bạc trắng. Chúng tôi ngồi nói chuyện tại một nhà hàng tại Oakland, California. “Tôi đã một lần gặp được hậu thế của Rumi,” ông kể với tôi “Hai mươi tám thế hệ đã trôi qua. Anh ấy đã ở Atlanta cùng với những huynh đệ Sufi (dervish[1]). Anh ấy bảo tôi ngồi xuống bàn và đưa cho tôi cuốn sách tuyệt vời này, món quà này, và anh ấy hỏi: “cậu là người theo tôn giáo nào?” tôi chỉ vung tay lên và anh ấy nói, “Tốt.” Sau đó Barks nói, “Tình yêu là tôn giáo và vũ trụ là sách. Vậy thì, nếu vũ trụ là sách, đó là cuộc sống của bạn vì bạn đang sống trong đó, đó là vũ trụ dành cho bạn. Đó là văn bản của bạn.”

Ông thấy Taliban chỉ khác một chút so với những người Cơ đốc giáo theo chủ nghĩa cơ yếu[2]. “Đây là một đám khủng bố bị tẩy não, những kẻ theo chủ nghĩa lụy văn bản và tâm thần. Họ có vẻ giống như những kẻ ái kỷ ra vẻ học thuật. Trông giống như những đứa trẻ, họ dường như chưa từng trưởng thành hoàn toàn; tôi không nghĩ họ biết bất kỳ ai trưởng thành. Họ không được chỉ dạy về những bí ẩn của sự cảm thông. Họ bị mắc kẹt trong văn bản giống như những người Baptist miền Nam hay trích dẫn Kinh thánh. Trong mọi tôn giáo đều tồn tại những người theo chủ nghĩa cơ yếu,” Barks nói.

Tôi hỏi Barks, “Làm thế nào mà hàng triệu người Mỹ lại kiếm tìm những tập thơ giống hệt như những người dân của một đất nước mà chúng ta hiện đang thả bom?”

“Chà, Rumi đạt đến một mức độ lan tỏa như vậy đó,” Barks trả lời. Khán giả của Rumi”có thể bao gồm những học giả rất sùng kính kinh Koran, họ nghe những bài thơ của ông ấy như là một số lời bình giảng về các câu trong Kinh Koran. Chúng ta có thể gặp những người Hồi giáo và nói chuyện chân thành với họ. Đó là cách mà cả hai quốc gia có thể yêu thích cùng một nhà thơ. Và ông ấy cũng có thể thu hút những người như tôi, những người ngộ đạo[3], chỉ chấp nhận trải nghiệm của riêng mình hơn là bất kỳ cách giải thích nào được tiết lộ qua sách vở. Rumi luôn có thể chinh phục được nhóm người tìm kiếm rộng lớn đó.”

Một lý do khiến Rumi tiếp cận được khán giả đa dạng như vậy là vì ông ấy hiếm khi rất cụ thể về người mà ông ấy đang nhắc đến, mà điểm nhấn là ông ấy đang nói về điều gì. Đây, trong bản dịch của Barks, ý tưởng của ông ấy là “được yêu”, một khái niệm bao gồm hầu như tất cả thế giới hữu hình và vô hình:

Tôi thuộc về những người được yêu, những kẻ đã thấy hai thế giới là một và được gọi tên cũng như được biết đầu tiên, cuối cùng, bên trong, bên ngoài là một người thở hơi thở cuộc sống.

Nó giống như là việc nhấn mạnh vào cái trừu tượng hơn là cái cụ thể chính là điều khiến những người theo Phong trào New Age và những người Hồi giáo theo chủ nghĩa cơ yếu cùng lật giở đến những trang sách giống nhau. Tuy Rumi sinh ra là một người theo đạo Hồi. Ngài sống như một tín đồ Hồi giáo Sufi sùng đạo, hành hương đến Mecca, cư xử hòa nhã trong cộng đồng của mình và hoàn thành nghĩa vụ của một người Hồi giáo. Nhưng dệt nên những áng thơ của ngài là sự khăng khăng rằng sự khác biệt về giáo phái không thực sự quan trọng – Barks chia sẻ một niềm tin của mình. Giống như Rumi, Barks quan tâm đến trải nghiệm tôn giáo hơn là sự khác biệt tôn giáo.

Barks nói: “Những người chia rẽ mọi người thành những người yêu thích Kinh Koran, những người yêu thích Kinh thánh, và những người yêu mến Kinh Torah – đó không phải là một phần của điều đó. Không có chuyện tiết lộ tài liệu độc quyền. Đó là một gia đình của mọi người, những người đang cố gắng học cách yêu. Và đó là một phiên bản rất rộng của tôn giáo, nhưng tôi nghĩ đó là một phiên bản hợp lý.”

Ngay cả theo các tiêu chuẩn Hồi giáo, không có gì là cực đoan về điều đó. Đó là một điều cơ bản, nếu thường xuyên bị bỏ qua, khía cạnh của Hồi giáo mà người Hồi giáo được Kinh Koran hướng dẫn, để sống trong hòa bình với người Do Thái và Cơ đốc giáo (nếu không thực sự kết bạn với họ). “Chắc chắn,” đọc Kinh Koran, “những người Do Thái và Cơ đốc giáo – họ sẽ có được phần thưởng của họ từ chúa, và không có sợ hãi trong họ, cũng không phải đau buồn.”

Khi tạo ra sự khác biệt về tên gọi, Rumi nói, thì sẽ bỏ lỡ trọng điểm. Ngài ấy đưa ra quan điểm của mình với phép ẩn dụ về cá – Barks đưa ra một minh chứng: “Một trong những câu chuyện cười của [Rumi] về thần học là gì, ngài ấy nói rằng giống như chúng ta là một trường học của loài cá tập hợp lại với nhau để thử và thảo luận về khả năng tồn tại của đại dương. Không có sự ngăn cách. Vì vậy, đừng cố tìm tên cho nó.”

Nhưng ở một khía cạnh khác, Rumi có thể có nhiều mâu thuẫn với những người Hồi giáo theo chủ nghĩa cơ yếu. Trong khi những người theo chủ nghĩa cơ yếu giảng về việc tuân thủ nghiêm ngặt mọi lời dạy của Kinh Koran, thì các nhà Sufi, giống như tất cả các nhà thần bí, tìm thấy Thượng Đế qua kinh nghiệm hơn là qua kinh văn. Rumi đã theo đuổi sự hiệp thông tĩnh lặng, và loại trải nghiệm đó sẽ không xảy ra ở giáo đường Hồi giáo hoặc đọc Kinh Koran. Rumi không hề muốn ném sách của mình vào đài phun nước, cho đến khi ngài biết rằng thông điệp trong đó sẽ phải đến từ chính bản thân mình.

Bất chấp tất cả những điều này, không phải là vô lý khi nghĩ rằng, khi bạn đọc những lời này, trên đài phát thanh ở đâu đó ở Kabul hoặc Mazar-i-Sharif, đang vang lên âm thanh đọc những áng thơ của Jelaluddin Rumi, thần đồng bản địa của Afghanistan. Và nếu người đó, hoặc một trong số chúng ta, đi tìm một bài thơ để mô tả sự thống khổ của chiến tranh, chúng ta có thể nghĩ ra bài thơ này.

Tôi đã vỡ vụn thông qua sự khao khát

Bây giờ, đổ đầy với một nỗi đau tôi có

Đã cảm thấy trước đây, nhưng không bao giờ như thế này.

Trung tâm dẫn đến tình yêu.

Linh hồn mở cốt lõi sáng tạo.

Giữ lấy nỗi đau cụ thể của bạn.

Điều đó cũng có thể đưa bạn đến với Thượng Đế.

Theo Rumi, “nỗi đau đặc biệt” của chúng ta không chỉ đưa chúng ta đến với Thượng Đế, mà chính là Thượng Đế. Và trong các bản dịch của Barks, không có thứ gì trên thế gian, dù là xấu xa nhất hay tốt đẹp nhất, mà lại không hề ẩn chứa sự thánh thiện. Barks giải thích, “Và nếu điều đó là sự thật thì mọi sự tử tế, mọi sự chữa lành, cũng như mọi căn bệnh, sự tàn ác và mọi tiếng la hét khủng khiếp bất ngờ đều là Thượng Đế. Tất cả đều là thần thánh.”

Đây là một cách để xem xét các thảm kịch trên quy mô của các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9. Một cách khác nữa, chỉ đơn giản là ước chúng đã không xảy ra và có thể coi như do một vị Thần đã để chúng xảy ra. Câu hỏi về việc tại sao bất kỳ vị Thần nào lại cho phép bi kịch như thế lấp đầy toàn bộ các kệ sách ở thư viện, nhưng tôi đã hỏi Barks, lúc đó ông ấy cắn thêm một miếng bánh sandwich của mình và nói, “Có lẽ Rumi chỉ đang cố gắng mô tả sự thiếu hiểu biết của mình. Ngài ấy cảm thấy rằng đó là một vũ trụ thiêng liêng, nhưng ngài ấy cảm thấy có những điều khủng khiếp đang xảy ra và ngài ấy không thể phủ nhận rằng chúng là một phần của nó.”

Nghệ thuật là nơi chúng ta thường tìm đến để tìm kiếm lời khuyên khi đã không còn lựa chọn nào khác. Và những gì ở đó, chắc chắn, không phải là câu trả lời mà là sự phản ánh những đau khổ mà chúng ta đã cảm nhận. Về điểm này, Rumi, đã giảm bớt sự đau buồn thành sự suy tư đơn giản, không ảo tưởng, ngài ấy đã thực hiện tốt điều đó.

Lăng mộ

Trông giống như một nhà tù, nhưng nó thực sự

Giải thoát tới sự hợp nhất. Hạt giống con người đi

Xuống đất như một cái gàu múc nước

Cái giếng nơi Joseph ở. Nó phát triển và

Mang đầy vẻ đẹp ngoài sức tưởng tượng.

Miệng của bạn đóng lại ở đây và ngay lập tức

Mở ra với tiếng reo vui ở đó. “Đó là một điều bí ẩn về linh hồn,” Barks nói. “Không ai biết linh hồn là gì. Nhưng tôi nghĩ rằng đó là thứ tạo nên biểu tượng, tạo nên những câu chuyện, chính là phần tràn ngập trong tâm hồn con người tạo ra ‘Chiến tranh và Hòa bình’.’ Không cần đến ‘Đêm thứ mười hai’ hay ‘Xin tùy ý thích’, tuôn ra từ Shakespeare. Cùng một cách với thơ của Rumi; tất cả đều là ngẫu hứng. Đó là một phần công việc mà ngài ấy đang làm với cộng đồng tu học, ngài ấy đã nói. Không viết nó ra. Ngài ấy đã cất lời và sau đó một người ghi chép đã viết lại. Và sau đó Rumi sẽ xem xét các trang và sửa đổi. Nhưng chủ yếu bạn có thể nói đó là nhạc jazz, được tạo ra theo yêu cầu của khoảnh khắc đó. Nó tự phát ra như một ngày mới. Và tiếp tục diễn ra. Vì vậy, một số đặc điểm nhất định của linh hồn có thể là nó hào phóng trong khả năng tạo ra mọi thứ, hân hoan, vui tươi và đau buồn; nó rất liên quan đến khổ đau.”


[1] Dervish hoặc Darvesh hoặc Darwīsh theo nghĩa rộng là thành viên của nhóm huynh đệ Sufi. Nghĩa hẹp để chỉ một hành khất tôn giáo, người đã chọn hoặc chấp nhận nghèo đói về vật chất. Trọng tâm mà họ muốn hướng tới là những giá trị phổ quát của tình yêu và sự phục vụ, gạt bỏ những ảo tưởng của bản ngã để đến được với Thượng Đế. (ND)

[2] Chủ nghĩa cơ yếu hoặc Phong trào nền tảng đề cập tới một niềm tin và trung thành tuyệt đối vào một số nguồn tư tưởng (bao gồm tôn giáo, chính trị, và ý thức hệ), và thậm chí đạt đến mức độ cực đoan. (ND)

[3] Gnosis – Ngộ đạo là một từ Hy Lạp để chỉ kiến ​​thức, và trong Gnismism – Thuyết Ngộ đạo đề cập đến tự nhận thức, kinh nghiệm và kiến ​​thức về sự hiện diện của Thượng Đế. (ND)

Sophia Ngô dịch

Nguồn: https://www.salon.com/2001/10/12/barks/

Share:

Add comment: